CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1.NHỮNGVẤN ĐỀCHUNGVỀKINHTẾTƯ NHÂN 1. Quanniệmvề kinhtếtưnhânvàcácloạihìnhcủakinhtếtư nhân * Quan niệm về kinh tế tư nhân Xuất phát từ thế giới quan duy vật lịch sử, các nhà kinh điển Mác – Lê-nin đã chỉ cho chúng ta rằng “do sự phát triển của lực lượng sản xuất mà từ một chế độ sinh hoạt xã hội này đã nảy sinh ra và phát triển lên như thế nào một chế độ sinh hoạt xã hội khác, cao hơn”. Trong quá trình nghiên cứu phương thức tư bản chủ nghĩa, Các-Mác cũng đã phát hiện ra quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mà trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu với các loại hình và hình thức phong phú là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, mặt khác, đến lượt nó, quan hệ sở hữu lại có tác động kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì vậy cần thay đổi chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất khi nó đã đạt đến trình độ xã hội hóa cao. Theo Các-Mác, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vai trò phản ánh đặc trưng của các hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng như hình thức tổ chức kinh tế nói riêng, nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết quả sản xuất.
Như vậy, có thể nhận thức rằng KTTN được đặc trưng bởi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Mặc dù trong các tài liệu nghiên cứu của Các-Mác và Lê- Nin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhưng các ông lại thường đề cập đến các thuật ngữ sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, lao động tư nhân. Nói KTTN TBCN chính là Các-Mác nói đến một hình thức phát triển của KTTN trong thời đại TBCN. Ở nước ta cho đến nay đã có nhiều quan niệm về KTTN.
Có quan niệm cho rằng KTTN là một thành phần kinh tế, nhưng ý kiến khác lại cho rằng KTTN là một khu vực kinh tế, một hình thức tổ chức doanh nghiệp hoặc là khu vực kinh tế dân doanh. 9 Khu vực kinh tế tư nhân là những đơn vị kinh tế được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Dưới góc độ thành phần kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân gồm có kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Dưới góc độ hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế tư nhân gồm kinh tế hộ kinh doanh độc lập (cả trong nông nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp) và các loại hình doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần)1.
Như vậy, kinh l l l l tế tư nhân là một loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về toàn bộ các yếu tố sản l l l l l l l l l l l l l l l l l l l l l l xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào sản xuất kinh doanh. Nó hoàn toàn tự l l l l l l l l l l l l l l l l l l chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, cụ thể l l l l l l l l l l l l l l l l l l là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn l l l l l l l l l l l l l l l l l l l l l hình thức tổ chức, quy mô, phương hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm l l l l l l l l l l l l l l l l về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật. l l l l l l l l l l l Thực tế, chúng ta có nhiều cách tiếp cận đối với kinh tế tư nhân, trong đó l l l l l l l l l l l l l l l l l có hai cách tiếp cận phổ biến. Một là, kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế.
l l l l l l l l l l l l l l l l l l l Hai là, kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế. Trong luận văn này, tác giả tiếp l l l l l l l l l l l l l l l l l l l cận kinh tế tư nhân theo góc độ là khu vực kinh tế, bao gồm các hộ sản xuất kinh l l l l l l l l l l l l l l l l l l l l doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ l l l l l l l l l l l l l l l l phần, công ty hợp danh. l l l l Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách l l l l l l l l l l l l l l l l khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân đã khẳng định kinh tế tư l l l l l l l l l l l l l l l l l l nhân gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân “là một khu vực kinh l l l l l l l l l l l l l l l l l l l tế, là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và việc phát l l l l l l l l l l l l l l l l l l triển kinh tế tư nhân được coi là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế l l l l l l l l l l l l l l l l l l l nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng trong thực l l l l l l l l l l l l l l l hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại l l l l l l l l l l l l l l l l l hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”. l l l l l l l l l l l l l l Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng Công Sản Việt Nam (2006) đã xác l l l l l l l l l l l l l l l l l định xuất phát từ ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân) đã hình thành nên nhiều l l l l l l l l l l l l l l l l l l l l hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế l l l l l l l l l l l l l l l l l l l l tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh l l l l l l l l l l l l l l l l l 10 tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Như vậy, lần đầu tiên Đảng ta khẳng định kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế, đồng thời khẳng định “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh… kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”; “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng lớn ở những đơn vị chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”. Quan niệm như trên cũng được ghi trong luật pháp và chính sách của Nhà nước ta. Hiến pháp năm 1992 quy định chế độ sở hữu ở Việt Nam bao gồm ba hình thức cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Trên cơ sở chế độ sở hữu đó, nền kinh tế có các thành phần cơ bản là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước.
* Các loại hình của kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, đan xen làm cơ sở cho việc hình thành nhiều loại hình tổ chức kinh doanh tư nhân khác nhau. So với thế giới, kinh tế tư nhân nước ta ra đời muộn, tuy nhiên nó chứa đựng sự phong phú, đa dạng, bao gồm hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân biểu hiện dưới các hình thức: doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hộ kinh doanh cá thể. Hộ kinh doanh cá thể: Hộ kinh doanh cá thể là những hộ kinh doanh nhỏ, bao gồm những cá nhân kinh doanh và nhóm kinh doanh do một cá nhân hoặc gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu toàn bộ trách nhiệm tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Đặc trưng của các hộ kinh doanh cá thể: - Có địa điểm, khu vực sản xuất kinh doanh ổn định, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và vốn; 11 - Chủ hộ kinh doanh có thể toàn quyền quyết định về phương thức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như phân phối lợi nhuận.
Đồng thời họ cũng chính là người phải chịu toàn bộ trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh; - Quy mô sản xuất của các hộ kinh doanh cá thể thường nhỏ lẻ, phân tán.