Mở đầu giai đoạn chủ nghĩa xã hội là thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản có những đặc trưng chủ yếu: một là, kế thừa và phát triển lực lượng sản xuất mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra trên cơ sở nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất và lao động; hai là, quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu; ba là, còn sản xuất hàng hóa; bốn là, lao động vừa là quyền 7 lợi, vừa là nghĩa vụ và còn có sự khác nhau về lao động, do đó kết quả lao động cũng khác nhau; năm là, thực hiện phân phối theo lao động. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, V. Lênin đã vận dụng và phát triển học thuyết của Mác để xác định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga sau năm 1917. Theo ông, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất; còn quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên chủ nghĩa xã hội không thể ra đời trong lòng xã hội tư bản.
Hơn nữa, để xây dựng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng xã hội mới, cần phải có thời gian, nghĩa là tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ sự phân tích như vậy, Lê nin cho rằng cách mạng vô sản giành được chính quyền mới chỉ là sự khởi đầu cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ quá độ như vậy, nền kinh tế có tính chất quá độ: nó không còn là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Phân tích thực trạng nền kinh tế của nước Nga lúc đó, ông cho rằng ở nước Nga có 5 thành phần kinh tế: Một là, kinh tế nông dân gia trưởng; Hai là, kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân, tiểu thủ công cá thể và tiểu thương; Ba là, kinh tế tư bản tư nhân; Bốn là, kinh tế tư bản nhà nước; Năm là, kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, không bao lâu sau cách mạng tháng Mười năm 1917, nước Nga lâm vào nội chiến 1918-1920. Trong thời kỳ này, Lênin đã áp dụng chính sách Cộng sản Thời chiến. Đó là chính sách trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi dành lại cho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xóa bỏ quan hệ hàng hóa - tiền tệ, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân đội và bộ máy nhà nước. Chính sách cộng sản thời chiến đã chiến thắng được kẻ thù, bảo vệ nhà nước Xô Viết non trẻ.
8 Nhưng khi hòa bình lập lại, chính sách này lại không còn thích hợp, nó kìm hãm sự phát triển sản xuất. Trong bối cảnh đó, chính sách Kinh tế mới ra đời (NEP). Nội dung và biện pháp chủ yếu của NEP là thay thế chính sách trưng thu lương thực, theo chính sách này, người nông dân chỉ nộp thuế lương thực cho nhà nước, số lương thực còn lại, người nông dân được tự do trao đổi, mua bán trên thị trường; tổ chức thị trường, thương nghiệp, thiết lập quan hệ hàng hóa - tiền tệ giữa nhà nước và nông dân, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp; sử dụng sức mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân, thợ thủ công; khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, củng cố lại các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và quan hệ hợp tác kinh tế với các nước tư bản phương Tây. Nội dung và giải pháp của NEP đã đánh dấu một bước phát triển mới về lý luận kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Theo NEP, kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ, sự quan tâm tới lợi ích kinh tế cá nhân trước hết là của nông dân, là những vấn đề có tính chất nguyên tắc trong việc xây dựng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chính sách kinh tế mới có ý nghĩa quốc tế to lớn đối với các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta. Những quan điểm kinh tế của Đảng ta, nhất là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay, đã thể hiện sự nhận thức và vận dụng quan điểm trong chính sách kinh tế mới của Lênin. Tất nhiên do thời gian và không gian xa cách nhau, trải qua những biến động khác nhau, nên nhận thức và vận dụng có thể có sự khác nhau, kể cả bước đi, nội dung và biện pháp cụ thể trong khi tiến hành ở nước ta.
Các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về thành phần kinh tế tư nhân * Trước năm 1986 Cuối những năm 1970, trước tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội của đất nước, hội nghị lần thứ 6 của BCH Trung ương Khóa IV (tháng 9/1979) chủ trương “làm cho sản xuất bung ra” và sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, Hội nghị khẳng định sự cần thiết kết hợp kế hoạch với thị trường, kết hợp thị trường có kế hoạch với thị trường tự do.Tiếp đến Ban Bí thư ra chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, Chính phủ ra Nghị định 25/CP, 26/CP xác định việc sử dụng các quan hệ thị trường,.Chính trên cơ sở những quyết sách đúng đắn đó, mà nhiều địa phương đã có những tìm tòi sáng tạo về phát triển kinh tế hộ tiểu chủ công nghiệp, sửa đổi giá, lương, tiền. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) khẳng định chủ trương đó và thừa nhận ở miền nam vẫn còn năm thành phần kinh tế. Tuy vậy đến năm 1986, KTTN vẫn được coi là tồn tại tạm thời và giữ vai trò thứ yếu, bổ trợ cho kinh tế quốc doanh. * Từ năm 1986 đến nay.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) - thời điểm được đánh dấu là cột mốc quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới kinh tế. Thông qua các chính sách kinh tế mới của Đảng và nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân được hồi sinh và phát triển trong một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước. Các Đại hội của Đảng sau đó đã khẳng định lại đường lối khởi xướng tại Đại hội VI và đưa ra các định hướng lớn trong chính sách phát triển kinh tế Việt Nam. Theo đó sự phát triển kinh tế tư nhân được khẳng định như sau: Kinh tế cá thể tiểu chủ ở cả nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài.
Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ 10 chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài. Đảng ta đã cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân trong các ngành nghề lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng mà pháp luật không cấm, đã có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa việc phát triển kinh tế tư nhân, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân được phát huy đầy đủ tiềm năng thế mạnh, tạo sức bật lớn cho nền kinh tế.
Đây được coi là bước đột phá mới về nhận thức phát triển kinh tế tư nhân. Đường lối đổi mới cơ bản đó của Đảng đã được thể chế hóa trong các văn bản pháp lý. Trước hết là Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có 15 điều quy định về chế độ kinh tế, theo đó nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 1992 còn quy định kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, được thành lập không bị hạn chế về quy mô, hoạt động trong nhiều ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh.
Tháng 1/1991, chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký sắc lệnh ban hành luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty, tiếp theo là các nghị định của hội đồng bộ trưởng ban hành cụ thể hóa các điều luật của luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty cho phép công dân Việt Nam đủ 18 tuổi có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty. Ngoài ra đối với các cá nhân, nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định theo quy định đối với các doanh nghiệp, công ty tư nhân thì được thành lập hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tiểu chủ hoặc nhóm hộ kinh doanh được đăng ký theo nghị định số 66/HĐBT ban hành tháng 2 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). 11 Trở lại giai đoạn lịch sử về phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta để thấy rằng quan điểm của Đảng ta đối với thành phần kinh tế này đã dần có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, nghĩa là, có tư duy đúng, có quan điểm đổi mới đối với thành phần kinh tế tư nhân, tạo nhiều thuận lợi để khuyến khích thành phần kinh tế này phát triển đúng định hướng. Mặt mạnh của khu vực kinh tế tư nhân là có động lực cá nhân mạnh mẽ, nó sẽ giúp hoạt động kinh doanh diễn ra năng động, nhanh chóng đổi mới, hệ thống điều hành và quan lý gọn nhẹ, có hiệu quả và chi phí thấp.
Lợi ích cá nhân là một động lực mạnh mẽ của con người, tồn tại lâu dài. Việc sử dụng động lực đó phục vụ cho lợi ích chung của xã hội là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Do vậy, trong nội dung này, có 02 vấn đề cần thiết phải làm rõ: Thứ nhất, kinh tế tư nhân và vấn đề bóc lột giá trị thặng dư.