Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP 21 phát triển, do đòi hỏi của quá trình chuyên môn hóa và hợp tác hóa, các doanh nghiệp thường phát triển theo hướng chuyên môn hóa, tập trung đầu tư vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh chủ yếu và lựa chọn một hoặc một số lĩnh vực sản xuất - kinh doanh chuyên môn hóa sâu. Mỗi một loại doanh nghiệp theo ngành đều có đặc điểm riêng về công nghệ, thị trường, nhân sự gắn với ngành kinh doanh của mình và Nhà nước có thể có những chính sách, cơ chế riêng đối với từng ngành, nghề kinh doanh tùy theo quan điểm, chính sách của Nhà nước. Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp Có thể có nhiều quan điểm về tiêu thức phân loại theo quy mô. Quan điểm kỹ thuật phân loại quy mô dựa vào năng lực sản xuất phản ánh ở số lượng sản phẩm dịch vụ theo đơn vị đo thích hợp mà doanh nghiệp có thể đáp ứng như sản phẩm, giường bệnh, số phòng phục vụ, số hành khách,.
Tuy nhiên, hầu như người ta không quy ước số lượng bao nhiêu là lớn, vừa hay nhỏ. Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có sự thống nhất trong việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá loại hình doanh nghiệp theo quy mô và lượng hóa các tiêu chí thông qua các chỉ tiêu cụ thể. Điểm khác biệt cơ bản trong phân loại doanh nghiệp theo quy mô giữa các quốc gia trên thế giới chủ yếu là việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá quy mô doanh nghiệp và việc lượng hóa các tiêu chí đó thông qua các chỉ tiêu cụ thể. Thực tế hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đều phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ.
Tùy thuộc vào điều kiện 22 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THUỘC KHU VỰC. cụ thể của mỗi nước và tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, trình độ phát triển trong từng thời kỳ mà mỗi nước có thể sử dụng các tiêu chí cụ thể hoặc kết hợp các tiêu chí khác nhau như: vốn điều lệ, vốn kinh doanh hoặc giá trị tài sản, giá trị doanh nghiệp, doanh thu, số lượng lao động sử dụng, và lãi kinh doanh. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (thay thế Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa) thì việc xác định quy mô doanh nghiệp căn cứ vào số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn, cụ thể: Theo Điều 6, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP 23 hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ đã xác định ở trên. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ đã nêu trên. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ đã nêu ở trên.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ đã nêu ở trên. Như vậy, theo quy định, các doanh nghiệp có mức sử dụng dưới 200 lao động, có tổng nguồn vốn từ 100 tỷ đồng trở xuống và mức doanh thu từ 200 tỷ đồng trở xuống được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; các doanh nghiệp có mức sử dụng dưới 100 lao động, có tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng và mức doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng trở xuống được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Các doanh nghiệp trên mức đã nêu tương ứng được coi là doanh 24 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THUỘC KHU VỰC. nghiệp quy mô lớn.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp mới khởi nghiệp. Đồng thời, Nhà nước cũng có những biện pháp, chính sách ưu đãi với những doanh nghiệp lớn có vị trí, vai trò chiến lược trong những ngành nghề, lĩnh vực Nhà nước cần phát triển. Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp được phân loại theo quy mô thành 4 loại: hạng đặc biệt, hạng A, hạng B và hạng C. Các căn cứ phân loại khác Phân loại theo trách nhiệm pháp lý và đặc điểm quản trị của doanh nghiệp.
Dưới góc độ này, doanh nghiệp được phân thành hai loại: doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ và trách nhiệm tài sản khác của doanh nghiệp. Doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn bao gồm các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh. Các doanh nghiệp khác, kể cả các doanh nghiệp nhà nước, về nguyên tắc đều thuộc loại doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn. Phân loại theo chủ sở hữu doanh nghiệp.
Theo cách phân loại này, có thể chia các doanh nghiệp thành 3 khu vực sở hữu chính: sở hữu nhà nước (doanh nghiệp nhà nước), sở hữu tư nhân (thuộc khu vực kinh tế tư nhân), sở hữu nước ngoài (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển các hình thức đa sở hữu hiện nay, nhiều doanh nghiệp có sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước và tư nhân, giữa trong nước và nước ngoài. Mặc dù vậy, cách phân loại này vẫn rất cần thiết để phục vụ cho việc đánh giá vai trò, sự đóng góp đối với nền kinh tế của 3 khu vực sở hữu, từ Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP 25 đó có thể ban hành những chính sách đối với các khu vực sở hữu khác nhau. Về nguyên tắc, Nhà nước ta thực hiện sự bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp theo sở hữu, nhưng trong các quy định về điều kiện kinh doanh và thể chế quản lý vẫn có sự khác biệt nhất định về quyền kinh doanh và điều kiện tiếp cận các nguồn lực trong một số ngành nghề, lĩnh vực.
Phân loại căn cứ vào chức năng hoạt động. Theo cách phân loại này, có thể chia các doanh nghiệp thành doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ. Doanh nghiệp sản xuất thực hiện sự kết hợp các nguồn lực sản xuất (vốn, công nghệ, lao động, đất đai, nguyên vật liệu,.) để tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Các sản phẩm là các vật phẩm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Do quá trình sản xuất thường tách rời quá trình tiêu dùng sản phẩm nên cơ cấu sản xuất của mọi doanh nghiệp sản xuất thường là cơ cấu khép kín, quá trình sản xuất không có sự hiện diện của khách hàng. Chức năng chủ yếu của doanh nghiệp sản xuất là sản xuất sản phẩm. Doanh nghiệp dịch vụ là doanh nghiệp thực hiện sự kết hợp các nguồn lực để tạo ra dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích thường không cụ thể có thể phục vụ trực tiếp khách hàng hay bán kèm theo sản phẩm.
Đa số dịch vụ có đặc điểm cơ bản là phi vật chất, không dự trữ được nên quá trình hình thành và cung cấp dịch vụ thường diễn ra đồng thời. Quá trình tạo ra và cung cấp dịch vụ thường gắn với sự hiện diện của khách hàng. Xã hội càng phát triển thì con người càng có nhu cầu đa dạng về 26 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THUỘC KHU VỰC. Do đó, giá trị cung cấp dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia.
Doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ là những doanh nghiệp vừa thực hiện chức năng sản xuất, vừa thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ. Các doanh nghiệp này thường là các doanh nghiệp sản xuất gắn liền với tiêu thụ sản phẩm, sản xuất gắn liền với dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng,. Trong xu hướng hiện nay, một số doanh nghiệp lớn có thể phát triển theo hướng đa dạng hóa cả các sản phẩm và dịch vụ. Căn cứ vào loại hình sản xuất.
Loại hình sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn công nghệ và phương pháp tổ chức sản xuất nên ảnh hưởng đặc biệt đến hoạt động tổ chức sản xuất, cạnh tranh,. của các doanh nghiệp. Nếu căn cứ vào loại hình sản xuất sẽ có doanh nghiệp sản xuất với khối lượng lớn, doanh nghiệp sản xuất hàng loạt và doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc. Doanh nghiệp sản xuất với khối lượng lớn là doanh nghiệp chỉ sản xuất một loại sản phẩm với số lượng rất lớn, chẳng hạn như các doanh nghiệp sản xuất điện, nước, một số doanh nghiệp khai thác.
Doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc là những doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau và tính lặp lại không theo quy luật, ví dụ như các doanh nghiệp gia công, sửa chữa,.