Chương 1: Kinh tế tư bản nhà nước trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư bản nhà nước ở Thái Nguyên Chương 3: Xu hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục phát triển thành phần kinh tế tư bản nhà nước ở Thái Nguyên 5 Chƣơng 1 KINH TẾ TƢ BẢN NHÀ NƢỚC TRONG NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM 1. Sự cần thiết và vai trò của kinh tế tƣ bản nhà nƣớc trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.1 Khái niệm chung về kinh tế tư bản nhà nước: Hình thức kinh tế tư bản nhà nước tồn tại trong nhiều chế độ kinh tế với quy mô và mức độ khác nhau, nhưng dù tồn tại ở đâu, trong các nước phát triển, đang phát triển hay những nước đang thực hiện bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì kinh tế tư bản nhà nước cũng hoạt động theo nguyên tắc kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Nghĩa là, với tiềm năng giới hạn, kinh tế tư bản nhà nước luôn dựa vào thị trường để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, sản xuất ở đâu và sản xuất khi nào thì đạt hiệu quả cao nhất, khi nào mang lại lợi nhuận tối đa. Chính vì dựa trên nguyên tắc đó nên kinh tế tư bản nhà nước một mặt đã vô tình thoả mãn có hiệu quả nhu cầu của xã hội, mặt khác kích thích, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia mà nó tồn tại.
Cách đây hơn tám mươi năm, sau khi thử nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng con đường trực tiếp (chính sách cộng sản thời chiến) không đem lại kết quả, Lênin đã chủ trương chuyển sang phát triển chính sách Kinh tế mới (NEP). Trong chính sách này Lênin đã dùng phạm trù “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước’’ để chỉ một khái niệm mới về “Chủ nghĩa tư bản dưới chính quyền Xô Viết’’ tức chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới chế độ cộng sản. Lênin khẳng định về chủ nghĩa tư bản nhà nước như sau: “Chủ nghĩa tư bản nhà 6 nước là chủ nghĩa tư bản dưới chế độ tư bản khi chính quyền nhà nước trực tiết khống chế những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa này hay xí nghiệp tư bản chủ nghĩa khác”[23,tr.101] Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khái niệm chủ nghĩa tư bản nhà nước đã mang một nội dung mới và một vai trò mới, Lênin đã phân biệt rõ chủ nghĩa tư bản nhà nước ở trong một nhà nước mà chính quyền thuộc về giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản nhà nước ở trong một nhà nước vô sản là hai khái niệm khác nhau. Sự khác biệt của tư bản nhà nước dưới chính quyền Xô Viết trước hết là ở tính giai cấp của Nhà nước – Nhà nước của giai cấp vô sản, thứ hai là ở tính chất xã hội của chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất – chế độ công hữu về đất đai và những cơ sở công nghiệp lớn và quan trọng nhất.
Từ đó chúng ta có thể rút ra ba thuộc tính bản chất của chủ nghĩa tư bản nhà nước của Lênin: Một là, chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước đối với các quan hệ tư bản chủ nghĩa hay là thứ chủ nghĩa tư bản chịu sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước. Hai là, chủ nghĩa tư bản nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế khách quan giữa nhà nước với nhà tư bản (quan hệ sở hữu, quan hệ trao đổi) Ba là, chủ nghĩa tư bản nhà nước là chủ nghĩa tư bản được phát triển, được dung nạp trong một giới hạn nhất định mà giới hạn đó do Nhà nước ấn định. Có thể hiểu một cách vắn tắt: Chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự kết hợp giữa nhà nước với các nhà tư bản (trong và ngoài nước) nhằm mục đích sử dụng đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để phát triển sản xuất. Đây là hình thức kinh tế do nhà nước kiểm soát và điều tiết sự phát triển.
Những tư tưởng cách mạng vĩ đại của Lênin đã soi rọi thực tiễn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng, đó là phát triển 7 nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn áp dụng ở Việt Nam đang chứng tỏ phạm trù chủ nghĩa tư bản nhà nước có thể được hiểu trên hai phương diện rộng và hẹp. Nghĩa rộng, phạm trù chủ nghĩa tư bản nhà nước là một hệ thống các quan hệ kinh tế trong đó có sự đan xen giữa một bên chủ thể là Nhà nước cách mạng và bên kia là các quan hệ kinh tế có tính chất tư bản chủ nghĩa. Theo nghĩa hẹp, đề cập đến những hình thức kinh tế hay thành phần kinh tế cụ thể, đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự kiểm soát của nhà nước đối với sản xuất tư nhân, là hợp đồng tô nhượng hay cho thuê các xí nghiệp nhà nước, là hợp tác xã của các tư bản tư nhân, tiểu chủ hay tiểu nông, là đại lý thương nghiệp các hình thức cho tư nhân thuê khác và đấu thầu các cơ sở sản xuất kinh doanh hay vùng mỏ… Đại hội VI của đảng đã đưa ra quan điểm về kinh tế tư bản nhà nước:” kinh tế tư bản nhà nước là hình thức kinh tế quá độ có thể được tổ chức từ thấp đến cao, từ đại lý cung ứng và tiêu thụ hàng hoá, làm gia công cho đến hợp doanh với nhà nước’’[6,tr.
Hình thức kinh tế này trải qua hơn 15 năm vận dụng vào điều kiện Việt Nam, đúc kết từ thực tiễn Đại hội IX khẳng định: “ Phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh”[11,tr.90] Trên quan điểm của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước, qua các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về thành phần kinh tế này đồng thời liên hệ với thực tiễn hiện nay, có thể tóm tắt khái niệm kinh tế tư bản nhà nước mà nước ta đang vận dụng như sau : Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài; là thành 8 phần kinh tế hiện đại để phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; là hình thức kinh tế kết hợp nội lực với ngoại lực trong thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập.2: Sự cần thiết và vai trò của kinh tế tư bản nhà nước trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Thành tựu ổn định và tăng trưởng kinh tế của nước ta những năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của các quan điểm kinh tế chủ đạo trong công cuộc cải cách, đó là: - Đoạn tuyệt với mô hình phát triển theo cơ chế cũ ( Kinh tế chỉ huy, kế hoạch hoá tập trung – bao cấp) - Chuyển sang phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước. - Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cải cách khu vực kinh tế nhà nước và khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. - Thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, lấy tăng trưởng xuất khẩu làm một động lực cho toàn bộ công cuộc tăng trưởng.
Tạo điều kiện tối đa để thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng đổi mới của Đảng ta hiện nay rất phù hợp với quan điểm của Lênin trong chính sách Kinh tế mới. Tuy nhiên theo nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin, một nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển cao sẽ không cần đến một giai đoạn phát triển trung gian nào khác. Những điều kiện về vật chất, khoa học kỹ thuật, tổ chức và văn hoá- xã hội cho bước chuyển đó đã hình thành và chín muồi trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển cao.
Nói đến điều kiện vật chất cho sự hình thành chủ nghĩa xã hội chúng ta thường cho rằng đó là nền đại công nghiệp, cách nói đó không sai nhưng 9 không đầy đủ và có phần giản đơn, phiến diện. Vấn đề không chỉ ở nền đại công nghiệp cơ khí mà còn là toàn bộ những mối liên hệ kinh tế, quan hệ tổ chức sản xuất - đó là nền sản xuất công nghiệp có tổ chức, có định hướng chiến lược và kế hoạch tổng thể gắn liền với sự điều tiết của Nhà nước, phục tùng Nhà nước; đó là toàn bộ hệ thống kinh tế quy mô lớn, hệ thống các cơ chế, công cụ điều tiết, các thành phần, tổ chức kinh tế…nghĩa là toàn bộ những thể chế vật chất và tổ chức của một nền kinh tế hiện đại. Tất cả những vấn đề đó hợp thành những điều kiện vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Tựu trung lại, muốn có chủ nghĩa xã hội cần phải có những điều kiện căn bản là: 1/ Phải có một cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại xây dựng trên cơ sở những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại.
2/ Phải có tổ chức Nhà nước hoạt động quản lý điều tiết có kế hoạch mang tính định hướng chiến lược. 3/ Giai cấp công nhân cùng với tầng lớp trí thức của mình, là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ, tiêu biểu cho xu thế phát triển của thời đại – phải là giai cấp lãnh đạo. Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội với quan điểm chủ đạo là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc trở lại vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam đã trở nên hết sức cần thiết, xét từ bất cứ góc độ nào: định hướng phát triển (Chủ nghĩa xã hội - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh) và mục tiêu tăng trưởng đầy quyết tâm (tốc độ cao và lâu bền).
Do thách thức phát triển của thời đại và của chính nước ta đang đặt ra.