CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI Formatted: Level 2 1. Một số khái niệm Formatted: Level 3 1. Khái niệm về kinh tế hộ gia đình Theo giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988): Kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao [7,1].
Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình chủ yếu có hai loại hình: một là, hộ sản xuất tự cấp, tự túc mang nặng tính chất sản xuất tự nhiên; hai là, hộ vừa sản xuất tự cấp, tự túc vừa sản xuất hàng hóa. Để thoát khỏi những giới hạn về sản xuất nông sản hàng hóa của kinh tế hộ gia đình, trong quá trình vận động nền kinh tế phát triển từ trình độ từ thấp đến cao phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường. Kinh tế hộ gia đình đã và đang diễn ra sự vận động, phát triển: những nông hộ có điều kiện sẽ trở thành trang trại sản xuất hàng hóa. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại Khái niệm trang trại: Tổ chức nông lương Liên hiệp quốc (FAO,1997), đã đưa ra khái niệm TT trên cơ sở khái niệm nông trại.
Theo FAO, nông trại (farm) là một mảnh đất mà trên đó có nông hộ thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ. Một số nhà khoa học trên thế giới cho rằng: Trang trại là đơn vị cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân, được hình thành và phát triển từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dần thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Ngày nay, TT là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới. SVTH: Lê Thuận – K43 KTCT 4.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hóa Ban Kinh tế trung ương: Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông – lâm – ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở phát triển kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt, đạt khối lượng và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa lớn hơn và thu được lợi nhuận nhiều hơn [13, 4]. Khái niệm KTTT: Ở nước ta, có rất nhiều nhà khoa học đưa ra quan niệm về KTTT nhưng ở nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ như: Phó giáo sư, tiến sĩ Lâm Quang Huyên cho rằng: KTTT là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp, hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường từ khi phương thức này thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Tang trại được hình thành từ các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp, tự túc khép kín, vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hóa tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế thị trường [5, 18].
Theo Giáo sư Đào Thế Tuấn: KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ. Theo Nghị quyết số 06 – NQ/TW, ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề pháp triển nông nghiệp và nông thôn quan niệm: KTTT hay các trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Một bộ phận trang trại ngoài lao động của gia đình, có thuê thêm lao động để sản xuất, kinh doanh, quy mô diện tích đất canh tác xoay quanh mức hạn điền ở từng vùng theo quy định của pháp luật [14, 4]. Nghị quyết số 03/ 2000/ NQ-CP của chính phủ về kinh tế trang trại ngày 02/ 02/ 2000 đã nêu: KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản, trồng rừng gắn với chế biến và tiêu thụ nông, thủy sản [15, 2].
SVTH: Lê Thuận – K43 KTCT 5. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hóa Như vậy, từ những quan điểm của các nhà khoa học có thể thống nhất khái niệm KTTT như sau: KTTT là hình thức tổ chức hàng hóa lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lí trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, phương pháp tạo ra suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn, có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hóa tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xã hội mang lại hiệu quả kinh tế cao [7, 31]. Khái niệm về kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế mà tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân. Kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân.
Ngoài đặc trưng chung là sở hữu tư nhân mỗi loại hình kinh tế cụ thể có những tiêu chí riêng khác nhau, phụ thuộc vào phương thức qui mô sản xuất kinh doanh. Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, là một trong những bộ phận cấu thành trong nền kinh tế quốc dân. Theo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đưa ra quan niệm: Kinh tế tư nhân là đơn vị kinh tế do những người có vốn, có tài sản lập ra sản xuất và kinh doanh theo pháp luật. Kinh tế tư nhân bao gồm các hình thức: hộ cá thể, hộ tiểu chủ, hộ tiểu thương, các doanh nghiệp tư nhân dưới nhiều hình thức như xí nghiệp tư doanh, công ty cổ phần,.
Tại văn kiện Đại hội lần thứ XI (2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam, kinh tế tư nhân lại được tái khẳng định là một thành phần kinh tế quan trọng, trong đó nêu rõ: “ hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế” [311, 101]. Trong luật doanh nghiệp (2005) cho rằng kinh tế tư nhân là những doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. SVTH: Lê Thuận – K43 KTCT 6. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hóa Từ phân tích quan điểm kinh tế tư nhân, chúng ta thấy kinh tế tư nhân và KTTT có nét tương đồng.
Tuy nhiên có điểm khác nhau căn bản: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế còn KTTT là hình thức tổ chức sản xuất mà các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế (kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) có thể lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu TT riêng nếu có đủ điều kiện. Vì vậy, KTTT có thể là một bộ phận của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Tiêu chí xác định kinh tế trang trại Formatted: Level 3 1. Đặc trưng chủ yếu của KTTT Thứ nhất, mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất các mặt hàng trong lĩnh vực nông – lâm - thủy sản hàng hóa với quy mô lớn.
Thứ hai, mức độ chuyên môn hóa và tập trung hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất nông hộ về đất đai, đầu con gia súc, gia cầm, lao động, giá trị nông- lâm- thủy sản hàng hóa,…. Thứ ba, chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết ứng dụng tiến bộ KH-KT, tiếp nhận chuyển giao công nghệ với hiệu quả cao, sử dụng lao động sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ. Tiêu chí định lượng để xác định KTTT Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa bình quân một năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hóa của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân một năm.
Theo Thông tư 27/2011/TT – BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT) đã đưa ra tiêu chí định lượng xác định kinh tế trang SVTH: Lê Thuận – K43 KTCT 7. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hóa trại: Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại. Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm. Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1000 triệu đồng/năm trở lên.
Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên [9, 2]. Vai trò của kinh tế trang trại Là một thực thể kinh tế, các trang trại hình thành và phát triển đã có những đóng góp không nhỏ cả về mặt tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông thôn. Ở nước ta, KTTT mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây. Song có vai trò rất lớn đối với đối với nền kinh tế Việt Nam.
Phát triển KTTT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên canh làm tiền đề cho phát triển ngành công nghiệp và chế biến nông sản, thực phẩm tạo thuận lợi cho việc đưa công nghiệp dịch vụ vào nông thôn.