Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Ở Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam

Luận văn phân tích phát triển kinh tế trang trại tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nêu rõ tiềm năng và thách thức trong lĩnh vực này.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2009 - 2013

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

1.4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

1.5. Ý nghĩa của đề tài

1.6. Kết cấu đề tài

2. PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI

2.1.1. Một số khái niệm

2.1.1.1. Khái niệm về kinh tế hộ gia đình
2.1.1.2. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại
2.1.1.3. Khái niệm về kinh tế tư nhân

2.1.2. Tiêu chí xác định kinh tế trang trại

2.1.2.1. Đặc trưng chủ yếu của KTTT
2.1.2.2. Tiêu chí định lượng để xác định KTTT

2.2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở HUYỆN ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
2.2.1.1.1. Vị trí địa lý
2.2.1.1.2. Đất đai và địa hình
2.2.1.1.3. Khí hậu, thuỷ văn
2.2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.1.2.1. Dân số và lao động
2.2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
2.2.1.2.3. Tình hình phát triển KT, XH trong những năm qua

2.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở huyện Điện Bàn

2.2.2.1. Số lượng và phân bố trang trại
2.2.2.2. Các loại hình trang trại
2.2.2.3. Quy mô, năng lực sản xuất của các chủ trang trại ở huyện
2.2.2.4. Quy mô đàn nuôi của các trang trại trên toàn huyện
2.2.2.5. Tình hình chung sử dụng lao động của các trang trại
2.2.2.6. Tình hình chung sử dụng đất đai của các trang trại
2.2.2.7. Tình hình chung huy động vốn và sử dụng vốn của các trang trại
2.2.2.8. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại điều tra của các tác giả
2.2.2.9. Quy mô cơ cấu của các trang trại điều tra
2.2.2.10. Tình hình sử dụng đất và đàn nuôi của các trang trại điều tra
2.2.2.11. Tình hình sử dụng lao động của các trang trại điều tra
2.2.2.12. Nguồn vốn của các trang trại điều tra
2.2.2.13. Hiệu quả sản xuất của các trang trại điều tra
2.2.2.14. Đánh giá chung về tình hình phát triển kinh tế trang trại của huyện Điện Bàn
2.2.2.14.1. Kết quả đạt được
2.2.2.14.2. Tồn tại và khó khăn

2.3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở HUYỆN ĐIỆN BÀN TRONG THỜI GIAN TỚI

2.3.1. Phương hướng phát triển kinh tế trang trại của huyện Điện Bàn

2.3.2. Mục tiêu phát triển kinh tế trang trại của huyện Điện Bàn

2.3.2.1. Mục tiêu tổng quát
2.3.2.2. Mục tiêu cụ thể

2.3.3. Giải pháp phát triển kinh tế trang trại của huyện Điện Bàn

2.3.3.1. Giải pháp về quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng
2.3.3.2. Giải pháp về vốn, huy động nguồn lực vốn tái đầu tư cho phát triển kinh tế trang trại
2.3.3.3. Giải pháp về đất đai
2.3.3.4. Giải pháp về khoa học công nghệ
2.3.3.5. Giải pháp về thị trường và tiêu thụ
2.3.3.6. Giải pháp hợp tác của các trang trại
2.3.3.7. Nâng cao vai trò quản lý và hỗ trợ của Nhà nước đối với KTTT

3. PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kinh Tế Trang Trại Điện Bàn Tiềm Năng Vai Trò

Sau 27 năm đổi mới, kinh tế Việt NamQuảng Nam đã có nhiều thay đổi tích cực. Mô hình kinh tế trang trại (KTTT) ngày càng phát triển, cả về số lượng và chất lượng. Đây là một trong những mô hình hiệu quả nhất hiện nay. Phát triển KTTT là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm huy động mọi nguồn lực, phát triển nông nghiệp hàng hóa, xây dựng nông thôn mới. Điện Bàn, một huyện đồng bằng của Quảng Nam, đang chứng kiến sự phát triển của KTTT, cải thiện đời sống nhân dân, tăng thu nhập và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, sự phát triển này còn tự phát, chưa bền vững, vốn đầu tư hạn hẹp, quy mô nhỏ lẻ, kỹ thuật lạc hậu, hiệu quả sản xuất chưa cao. Vì vậy, cần tìm ra phương hướng và giải pháp để phát triển KTTT của huyện trong thời gian tới.

1.1. Định Nghĩa và Bản Chất của Kinh Tế Trang Trại

Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình. Mục tiêu là mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản, trồng rừng, chế biến và tiêu thụ nông, thủy sản. Kinh tế trang trại có sức đầu tư lớn, năng lực quản lý trực tiếp, tạo ra suất sinh lợi cao hơn bình thường và có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Giáo sư Đào Thế Tuấn cho rằng KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ.

1.2. Vai Trò của Kinh Tế Trang Trại trong Phát Triển Nông Thôn

Kinh tế trang trại đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn. Nó giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân và góp phần xóa đói giảm nghèo. Kinh tế trang trại cũng thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, nó góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Phát triển kinh tế trang trại là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng nông thôn mới.

II. Thực Trạng Phát Triển Trang Trại Điện Bàn Phân Tích SWOT

Điện Bàn có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế trang trại. Tuy nhiên, thực tế phát triển còn nhiều hạn chế. Các trang trại phát triển tự phát, chưa có quy hoạch rõ ràng. Vốn đầu tư còn hạn hẹp, quy mô nhỏ lẻ, kỹ thuật lạc hậu. Hiệu quả sản xuất chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng. Cần phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) để có cái nhìn toàn diện về thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Điện Bàn.

2.1. Số Lượng Quy Mô và Phân Bố Trang Trại Quảng Nam

Số lượng trang trại ở Điện Bàn đang tăng lên, nhưng quy mô còn nhỏ. Phân bố trang trại chưa đồng đều, tập trung chủ yếu ở một số xã. Cần có chính sách khuyến khích phát triển trang trại quy mô lớn, đồng thời hỗ trợ các trang trại nhỏ lẻ nâng cao hiệu quả sản xuất. Theo số liệu thống kê, năm 2012, số lượng trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện là X trang trại, phân bố chủ yếu ở các xã Y và Z (dẫn chứng từ khóa luận).

2.2. Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh của Trang Trại Điện Bàn

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại còn thấp. Năng suất cây trồng, vật nuôi chưa cao. Chi phí sản xuất còn lớn. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn yếu. Cần có giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm chi phí, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Theo kết quả điều tra, hiệu quả sản xuất của các trang trại điều tra còn thấp, chủ yếu do chi phí đầu vào cao và giá bán sản phẩm không ổn định (dẫn chứng từ khóa luận).

2.3. Khó Khăn và Thách Thức Đối Với Trang Trại Điện Bàn

Các trang trại đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Thiếu vốn đầu tư, thiếu đất sản xuất, thiếu lao động có tay nghề. Biến đổi khí hậu, dịch bệnh gây thiệt hại lớn. Thị trường tiêu thụ không ổn định. Cần có chính sách hỗ trợ vốn, đất đai, đào tạo lao động, phòng chống thiên tai dịch bệnh và tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm.

III. Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Bền Vững Tại Điện Bàn

Để phát triển kinh tế trang trại bền vững ở Điện Bàn, cần có giải pháp đồng bộ trên nhiều lĩnh vực. Quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng, giải pháp về vốn, đất đai, khoa học công nghệ, thị trường và tiêu thụ. Nâng cao vai trò quản lý và hỗ trợ của Nhà nước đối với KTTT.

3.1. Quy Hoạch và Xây Dựng Cơ Sở Hạ Tầng Cho Trang Trại

Cần có quy hoạch chi tiết về phát triển kinh tế trang trại, đảm bảo phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương. Xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bao gồm giao thông, thủy lợi, điện, nước, thông tin liên lạc. Tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại sản xuất và kinh doanh.

3.2. Chính Sách Hỗ Trợ Vốn và Tiếp Cận Tín Dụng Ưu Đãi

Cần có chính sách hỗ trợ vốn cho các trang trại, đặc biệt là các trang trại mới thành lập và các trang trại ứng dụng công nghệ cao. Tạo điều kiện cho các trang trại tiếp cận tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất vay vốn. Khuyến khích các tổ chức tín dụng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

3.3. Ứng Dụng Nông Nghiệp Công Nghệ Cao vào Sản Xuất

Khuyến khích các trang trại ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất, như nhà kính, tưới nhỏ giọt, phân bón thông minh, quản lý dịch hại tổng hợp. Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

IV. Liên Kết Sản Xuất và Tiêu Thụ Nông Sản Điện Bàn Giải Pháp

Cần xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản bền vững. Khuyến khích các trang trại liên kết với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Xây dựng thương hiệu cho nông sản Điện Bàn. Mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.

4.1. Phát Triển Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Kiểu Mới

Phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, hoạt động hiệu quả, minh bạch. Hợp tác xã đóng vai trò cầu nối giữa trang trại và doanh nghiệp, cung cấp dịch vụ đầu vào, tiêu thụ sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật cho các trang trại.

4.2. Xây Dựng Thương Hiệu Nông Sản Đặc Trưng Điện Bàn

Xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng của Điện Bàn, như rau sạch, trái cây đặc sản, thủy sản chất lượng cao. Quảng bá thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước. Nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản.

4.3. Mở Rộng Thị Trường Nông Sản Trong và Ngoài Nước

Mở rộng thị trường nông sản trong và ngoài nước. Tìm kiếm đối tác tiêu thụ ổn định. Tham gia các hội chợ, triển lãm nông sản. Xây dựng kênh phân phối trực tuyến. Đẩy mạnh xuất khẩu nông sản.

V. Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Trang Trại Điện Bàn Cơ Hội Vàng

Phát triển du lịch sinh thái trang trại là một hướng đi tiềm năng cho Điện Bàn. Khai thác lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa truyền thống và sản phẩm nông nghiệp đặc trưng. Tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút du khách và tăng thu nhập cho người dân.

5.1. Xây Dựng Mô Hình Du Lịch Trang Trại Đa Dạng

Xây dựng mô hình du lịch trang trại đa dạng, phù hợp với từng loại hình trang trại. Du khách có thể tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp, trải nghiệm cuộc sống nông thôn, thưởng thức ẩm thực địa phương và mua sắm sản phẩm nông nghiệp.

5.2. Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Du Lịch Sinh Thái

Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự và bảo vệ môi trường. Đào tạo nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp. Xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch đồng bộ.

5.3. Quảng Bá Du Lịch Trang Trại Điện Bàn

Quảng bá du lịch trang trại Điện Bàn trên các phương tiện truyền thông, website du lịch và mạng xã hội. Tổ chức các sự kiện du lịch, lễ hội nông sản. Liên kết với các công ty du lịch để đưa khách đến tham quan.

VI. Kết Luận Kinh Tế Trang Trại Điện Bàn Hướng Đến Tương Lai

Phát triển kinh tế trang trại là một trong những nhiệm vụ quan trọng để xây dựng nông thôn mới ở Điện Bàn. Cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, chính quyền. Sự tham gia tích cực của người dân và doanh nghiệp. Để kinh tế trang trại Điện Bàn phát triển bền vững, hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

6.1. Tầm Quan Trọng của Chính Sách Hỗ Trợ Từ Nhà Nước

Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại sản xuất và kinh doanh. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, đảm bảo hiệu quả và công bằng.

6.2. Vai Trò của Khoa Học Công Nghệ Trong Phát Triển Bền Vững

Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất là yếu tố then chốt để phát triển kinh tế trang trại bền vững. Cần khuyến khích các trang trại đầu tư vào nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ mới, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.

05/06/2025
Luận văn phát triển kinh tế trang trại ở huyện điện bàn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI Formatted: Level 2 1. Một số khái niệm Formatted: Level 3 1. Khái niệm về kinh tế hộ gia đình Theo giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988): Kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao [7,1].

Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình chủ yếu có hai loại hình: một là, hộ sản xuất tự cấp, tự túc mang nặng tính chất sản xuất tự nhiên; hai là, hộ vừa sản xuất tự cấp, tự túc vừa sản xuất hàng hóa. Để thoát khỏi những giới hạn về sản xuất nông sản hàng hóa của kinh tế hộ gia đình, trong quá trình vận động nền kinh tế phát triển từ trình độ từ thấp đến cao phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường. Kinh tế hộ gia đình đã và đang diễn ra sự vận động, phát triển: những nông hộ có điều kiện sẽ trở thành trang trại sản xuất hàng hóa. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại Khái niệm trang trại: Tổ chức nông lương Liên hiệp quốc (FAO,1997), đã đưa ra khái niệm TT trên cơ sở khái niệm nông trại.

Theo FAO, nông trại (farm) là một mảnh đất mà trên đó có nông hộ thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ. Một số nhà khoa học trên thế giới cho rằng: Trang trại là đơn vị cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân, được hình thành và phát triển từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dần thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Ngày nay, TT là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới. SVTH: Lê Thuận – K43 KTCT 4.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hóa Ban Kinh tế trung ương: Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông – lâm – ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở phát triển kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt, đạt khối lượng và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa lớn hơn và thu được lợi nhuận nhiều hơn [13, 4]. Khái niệm KTTT: Ở nước ta, có rất nhiều nhà khoa học đưa ra quan niệm về KTTT nhưng ở nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ như: Phó giáo sư, tiến sĩ Lâm Quang Huyên cho rằng: KTTT là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp, hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường từ khi phương thức này thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Tang trại được hình thành từ các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp, tự túc khép kín, vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hóa tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế thị trường [5, 18].

Theo Giáo sư Đào Thế Tuấn: KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ. Theo Nghị quyết số 06 – NQ/TW, ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề pháp triển nông nghiệp và nông thôn quan niệm: KTTT hay các trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Một bộ phận trang trại ngoài lao động của gia đình, có thuê thêm lao động để sản xuất, kinh doanh, quy mô diện tích đất canh tác xoay quanh mức hạn điền ở từng vùng theo quy định của pháp luật [14, 4]. Nghị quyết số 03/ 2000/ NQ-CP của chính phủ về kinh tế trang trại ngày 02/ 02/ 2000 đã nêu: KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản, trồng rừng gắn với chế biến và tiêu thụ nông, thủy sản [15, 2].

SVTH: Lê Thuận – K43 KTCT 5. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hóa Như vậy, từ những quan điểm của các nhà khoa học có thể thống nhất khái niệm KTTT như sau: KTTT là hình thức tổ chức hàng hóa lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lí trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, phương pháp tạo ra suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn, có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hóa tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xã hội mang lại hiệu quả kinh tế cao [7, 31]. Khái niệm về kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế mà tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân. Kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân.

Ngoài đặc trưng chung là sở hữu tư nhân mỗi loại hình kinh tế cụ thể có những tiêu chí riêng khác nhau, phụ thuộc vào phương thức qui mô sản xuất kinh doanh. Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, là một trong những bộ phận cấu thành trong nền kinh tế quốc dân. Theo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đưa ra quan niệm: Kinh tế tư nhân là đơn vị kinh tế do những người có vốn, có tài sản lập ra sản xuất và kinh doanh theo pháp luật. Kinh tế tư nhân bao gồm các hình thức: hộ cá thể, hộ tiểu chủ, hộ tiểu thương, các doanh nghiệp tư nhân dưới nhiều hình thức như xí nghiệp tư doanh, công ty cổ phần,.

Tại văn kiện Đại hội lần thứ XI (2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam, kinh tế tư nhân lại được tái khẳng định là một thành phần kinh tế quan trọng, trong đó nêu rõ: “ hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế” [311, 101]. Trong luật doanh nghiệp (2005) cho rằng kinh tế tư nhân là những doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. SVTH: Lê Thuận – K43 KTCT 6. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hóa Từ phân tích quan điểm kinh tế tư nhân, chúng ta thấy kinh tế tư nhân và KTTT có nét tương đồng.

Tuy nhiên có điểm khác nhau căn bản: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế còn KTTT là hình thức tổ chức sản xuất mà các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế (kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) có thể lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu TT riêng nếu có đủ điều kiện. Vì vậy, KTTT có thể là một bộ phận của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Tiêu chí xác định kinh tế trang trại Formatted: Level 3 1. Đặc trưng chủ yếu của KTTT Thứ nhất, mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất các mặt hàng trong lĩnh vực nông – lâm - thủy sản hàng hóa với quy mô lớn.

Thứ hai, mức độ chuyên môn hóa và tập trung hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất nông hộ về đất đai, đầu con gia súc, gia cầm, lao động, giá trị nông- lâm- thủy sản hàng hóa,…. Thứ ba, chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết ứng dụng tiến bộ KH-KT, tiếp nhận chuyển giao công nghệ với hiệu quả cao, sử dụng lao động sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ. Tiêu chí định lượng để xác định KTTT Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa bình quân một năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hóa của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân một năm.

Theo Thông tư 27/2011/TT – BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT) đã đưa ra tiêu chí định lượng xác định kinh tế trang SVTH: Lê Thuận – K43 KTCT 7. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hóa trại: Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại. Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm. Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1000 triệu đồng/năm trở lên.

Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên [9, 2]. Vai trò của kinh tế trang trại Là một thực thể kinh tế, các trang trại hình thành và phát triển đã có những đóng góp không nhỏ cả về mặt tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông thôn. Ở nước ta, KTTT mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây. Song có vai trò rất lớn đối với đối với nền kinh tế Việt Nam.

Phát triển KTTT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên canh làm tiền đề cho phát triển ngành công nghiệp và chế biến nông sản, thực phẩm tạo thuận lợi cho việc đưa công nghiệp dịch vụ vào nông thôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Tại Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình và tiềm năng phát triển kinh tế trang trại tại khu vực này. Tài liệu nhấn mạnh các yếu tố quan trọng như nguồn lực tự nhiên, chính sách hỗ trợ của chính phủ, và nhu cầu thị trường, từ đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho người dân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp, cũng như các mô hình kinh tế trang trại thành công.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các giải pháp phát triển tương tự. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ giải pháp phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mô hình hợp tác xã trong nông nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã Tân Tiến, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang sẽ mang đến những giải pháp cụ thể cho phát triển kinh tế nông hộ, một khía cạnh quan trọng trong phát triển kinh tế trang trại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và tìm kiếm các giải pháp hiệu quả cho phát triển kinh tế nông nghiệp.