Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1-Một số vấn đề cơ bản về trang trại Trong lịch sử loài người, trải qua các phương thức sản xuất đã hình thành nhiều loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp khác nhau, dựa trên cơ sở chiếm hữu tư liệu sản xuất quan trọng (đất đai). Xét về quan hệ sở hữu các nhà kinh tế học đã khái quát thành năm hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp cơ bản nhất đó là: Điền trang lớn. Nông nghiệp đồn điền. Trang trại cộng đồng.
Nông nghiệp tập thể hoá. Trang trại gia đình. “Kinh tế trang trại là một tổ chức cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của mỗi người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô và tất cả các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với các tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [14].1-Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại 1.1- Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại *Khái niệm về trang trại: “Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ: Ferme (Tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh) vv, được hiểu chung là nông dân- chủ trang trại gia đình. Các thuật ngữ trên được hiểu chung là nông dân, chủ trang trại gia đình, người nông dân gắn với ruộng đất, với đất đai nói chung”[24].
Theo Mác; trong sản xuất nông nghiệp, vai trò hết sức quan trọng của trang trại là mang lại hiệu quả kinh tế cao “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn, mà là các trang trại gia đình sử dụng lao động làm thuê” [6]. *Khái niệm về kinh tế trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình, 6 nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, trồng rừng, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ, hải sản” [10]. Còn rất nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, nhưng tựu chung vẫn thống nhất cho rằng, trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá ở mức cao hơn kinh tế hộ về cả quy mô, lẫn hình thức quản lý. Hơn nữa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác ở các hộ gia đình thì mục đích chủ yếu là tự sản tự tiêu, nhưng mục đích của người chủ trang trại lại chủ yếu là sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường, có quan hệ chặt chẽ và phản ứng nhanh nhạy với thị trường.
Còn một phần nhỏ sản phẩm làm ra phục vụ ngược trở lại cho sản xuất và tiêu dùng.2-Phân loại trang trại -Theo các hình thức tổ chức quản lý: +Trang trại gia đình độc lập: Là trang trại mà độc lập một gia đình thành lập, và điều hành quản lý. +Trang trại liên doanh: Là trang trại có từ hai hay nhiều gia đình cùng nhau thành lập và điều hành quản lý. +Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là trang trại kết hợp hai hay nhiều loại hình sản xuất kinh doanh và cùng nhau góp vốn theo hình thức cổ phần hóa. +Trang trại uỷ thác: Là loại hình trang trại mà người sáng lập, thành lập nên ủy quyền cho một hay một nhóm người nào đó điều hành quản lý.
-Theo cơ cấu sản xuất: +Trang trại kinh doanh tổng hợp: Trang trại loại này là loại hình kinh doanh là chủ yếu, và các mặt hàng kinh doanh đều nhằm phục vụ cho kinh tế trang trại. +Trang trại sản xuất chuyên môn hoá: Là loại hình chuyên môn sản xuất một sản phẩm nông nghiệp nào đó mang tính sản xuất hàng hóa lớn. 7 -Theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất +Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất: Là loại hình trang trại mà toàn bộ vốn tài sản của trang trại thuộc quyền sở hữu của chủ trang trại. +Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất và phải đi thuê một phần: Là loại hình trang trại mà trong đó toàn bộ vốn và tài sản của trang trại không thuộc quyền sở hữu của riêng chủ trang trại mà còn có của một hay nhiều sở hữu khác.
+Chủ trang trại thuê hoàn toàn tư liệu sản xuất: Là loại hình trang trại mà toàn bộ phần tư liệu sản xuất và tài sản cố định không thuộc quyền sở hữu của chủ trang trại, mà đó là đi thuê còn chủ trang trại chỉ bỏ chi phí lưu động để sản xuất kinh doanh.2-Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại Thông tư số 74/2003/TT-BNN, ngày 04/7/2003 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; về việc thay thế Thông tư liên tịch số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK. Qua đó đưa ra tiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau: - Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá; dịch vụ bình quân một năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. - Đối với hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân một năm.1-Giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ bình quân 1 năm: -Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền trung từ 40 triệu đồng trở lên. -Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên.2-Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.
8 a- Đối với trang trại trồng trọt -Trang trại trồng cây hàng năm +Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung. +Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. - Trang trại trồng cây lâu năm +Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung. +Từ 5 ha đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
+Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên. -Trang trại lâm nghiệp +Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước b- Đối với trang trại chăn nuôi -Chăn nuôi đại gia súc, trâu, bò. +Chăn nuôi sinh sản lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên. +Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.
- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê,. +Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên. +Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (Không kể lợn sữa) dê thịt từ 200 con trở lên (Không tính con dưới 7 ngày tuổi). c- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản -Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (Riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1ha trở lên) d- Đối với các loại sản phẩm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị hàng hoá (tiêu chí 1)[4].3-Những đặc trưng của kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường Một là: mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản phẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường.
Sản xuất nông nghiệp theo kiểu truyền thống tự cung, tự cấp chỉ giải quyết nhu cầu của chính người sản xuất, lượng sản phẩm dư thừa đem bán trên thị trường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với khối lượng nông sản mà họ sản xuất ra. Các hộ nông dân cũng cố gắng bán bất kỳ thứ nông sản nào do chính bản thân họ sản xuất ra – giai đoạn này gọi là thương mại hoá sản phẩm. Sau đó, hộ nông dân sản xuất hàng hoá theo yêu cầu của thị trường - đó là giai đoạn sản xuất hàng hoá của hộ đã đạt tới một trình độ cao để thích ứng với nhu cầu của thị trường. Tới khi sản xuất hàng hoá khu vực nông thôn đã đạt đến một cấp độ cao hơn, một bộ phận hộ nông dân đã phát triển đến hình thức sản xuất theo mô hình trang trại.
Đến giai đoạn này, tôi xin nêu trên ba khía cạnh: a. Số lượng hàng hoá: được sản xuất nhiều hơn, tỷ trọng hàng hoá trong tổng khối lượng nông sản chiếm tỷ trọng lớn, nghĩa là nông sản được tiêu thụ với quy mô lớn hơn. Quá trình sản xuất này đã phân hoá một số hộ đã tích tụ ruộng đất, đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất thay vì tự túc. Với những nông hộ có chăn nuôi, quy mô đàn cũng lớn hơn nhiều.
Chất lượng hàng hoá: tốt hơn, đảm bảo cả về sự an toàn, vệ sinh trong nông sản, chất lượng dịch vụ cung cấp nông sản cũng tốt hơn, đạt tới quá trình marketing sản phẩm, chứ không còn là giai đoạn thương mại hoá nông sản, là giai đoạn người sản xuất cố gắng bán bất cứ thứ gì mà họ sản xuất được, chứ không bán loại nông sản do yêu cầu thị trường. Cơ cấu sản phẩm: nông sản được cung cấp theo hướng chuyên môn hoá theo vùng sản xuất, bởi vì ngoài tác động của thông tin thị trường, sản phẩm nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện tự nhiên, chính vì thế, các trang trại sản xuất cũng phải tuân thủ điều kiện tự nhiên của vùng. Tuy vậy, họ cố gắng lựa chọn những nông sản được coi là thế mạnh của vùng mà 10 họ đang tiến hành sản xuất. Sự lựa chọn này tạo cho các trang trại lợi thế, được gọi là lợi thế so sánh.
Vì vậy muốn sản xuất hàng hoá phải đi sâu vào chuyên môn hoá, nhưng phải kết hợp với phát triển tổng hợp mới khai thác được mọi nguồn lực của vùng, đồng thời còn hạn chế được các rủi ro như thiên tai, dịch bệnh, sự biến động của thị trường. Hai là: Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Lý thuyết kinh điển Mác-Lê Nin về điều kiện để sản xuất hàng hoá đã nêu rõ: Có sự phân công lao động xã hội. Có những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.