Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế Hợp tác xã Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế hợp tác xã ở tỉnh Thái Nguyên từ 2003 đến nay Chương 3: Định hƣớng và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế HTX ở tỉnh Thái Nguyên 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP TÁC XÃ 1.1 Lý luận chung về phát triển kinh tế HTX 1.1 Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế hợp tác xã 1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về kinh tế HTX Về khái niệm hợp tác xã (HTX) Xuất phát từ những tiền đề kinh tế nảy sinh ngay trong lòng xã hội tƣ bản, C.Mác và Ăngghen đƣa ra một quan niệm khái quát nhất về hợp tác xã, coi HTX là “tổ chức của những ngƣời sản xuất nhỏ, yếu thế lực về kinh tế cần phải hợp sức, hợp vốn với nhau để tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh”. Nghĩa là, sự xuất hiện của hình thức tổ chức kinh tế hợp tác là dựa trên lao động tự do của ngƣời lao động. Các ông cho rằng, mục tiêu của các hợp tác xã không phải vì lợi nhuận, mà vì sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau để có thể tồn tại bên cạnh các nhà tƣ bản lớn. Trên thực tế, các HTX đã chứng tỏ sức sống của nó trong nền kinh tế thị trƣờng tự do cạnh tranh.
Thể hiện là, cuộc khủng hoảng kinh tế vào cuối thế kỷ XIX gây nên sự hạ giá nông sản ở khắp nơi, nhƣng các HTX đã không vì thế tan rã, mà ngƣợc lại còn phát triển mạnh hơn. Ăng-ghen và sau này là Lênin đã nghiên cứu tƣờng tận các HTX ở nƣớc Anh và một số nƣớc khác ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Nga,. Các ông cho rằng, các HTX đƣợc xây dựng dƣới chủ nghĩa tƣ bản (CNTB) là để đấu tranh kinh tế với giai cấp tƣ sản, phát huy sáng kiến của quần chúng; vì thế, các HTX đƣợc xây dựng thành những tổ chức kinh tế rộng lớn, nó đã chứa đựng tiềm năng của chủ nghĩa xã hội, là những di sản văn hóa cần đƣợc coi trọng và sử dụng. Nhận thức rõ những hạn chế của HTX dƣới CNTB, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Lênin cho rằng phong trào HTX sẽ đƣợc phát huy dƣới chính quyền 6 nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dƣới sự tác động của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (XHCN) – chế độ công hữu về ruộng đất và các tƣ liệu sản xuất cơ bản khác.
Trong điều kiện ấy, HTX là con đƣờng giản đơn nhất, dễ dàng nhất đối với nông dân nói riêng và đối với những ngƣời sản xuất nhỏ nói chung. HTX đã xuất hiện trong lòng xã hội tƣ bản, những ngƣời sáng lập HTX, dẫn đầu phong trào HTX là những ngƣời giàu lòng nhân đạo, đối lập với mặt phi nhân, phi văn hóa của thị trƣờng tƣ bản. Chính vì lẽ đó, Lênin đã chỉ ra mục tiêu của HTX: “không phải vì lợi nhuận tối đa, mà vì sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên tham gia hợp tác, những ngƣời quản lý điều hành HTX không phải vì có nhiều vốn đóng góp, mà vì sự tín nhiệm của các thành viên, mọi ngƣời tham gia hợp tác đều có quyền hạn ngang nhau, không phụ thuộc vào đóng góp nhiều hay ít. Nhƣ vậy, tính chất và mục tiêu của HTX phù hợp với tính chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Sau khi chính quyền thuộc về nhân dân lao động, khi nhân dân đã vào HTX tới một mức độ nhất định, thì CNXH tự nó sẽ đƣợc thực hiện” [15] Về nguyên tắc hoạt động của Hợp tác xã - Nguyên tắc tự nguyện Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, có tính chất tạo tiền đề để thực hiện các nguyên tắc khác. Thực hiện nguyên tắc này, những ngƣời lao động có quyền tự quyết định gia nhập HTX hoặc xin ra khỏi HTX. Lênin nhấn mạnh: tuyệt đối không đƣợc cƣỡng ép nông dân (bất kể hình thức nào) mà phải để cho ngƣời nông dân tự suy nghĩ, thấy rõ lợi ích thiết thân của mình và tự nguyện hợp tác với nhau. Nguyên tắc này không phải là một thủ thuật đối với tâm lý nông dân, để lôi cuốn nông dân, mà trƣớc hết phụ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
Sự phát triển khách quan của kinh tế - xã hội nông thôn đòi hỏi cần tổ chức HTX vì HTX đƣa lại lợi ích thiết thân cho ngƣời lao động, ngƣời sản xuất, và do vậy mà họ tự nguyên tham gia. Nguyên tắc tự nguyện ở đây phản ánh sức hấp dẫn đối với nông dân và họ tự gia nhập, nếu không có sức hấp dẫn thì không thể gò ép nông dân vào HTX. Tính chủ động tự giác của nhân tố chính trị, của ngƣời lãnh đạo chỉ là đẩy nhanh, rút ngắn quá trình ngƣời nông dân phát triển tự nhiên và làm họ 7 thấy rõ lợi ích thiết thân của mình để tự nguyện tham gia HTX. Mọi sự can thiệp trái tự nhiên thƣờng vi phạm nguyên tắc tự nguyện, vì thế ngƣời lao động không nhiệt tình, hoặc HTX chỉ là hình thức, không hiệu quả,.
Để làm cho nông dân tự nguyện tham gia HTX cần phải dân chủ trong quản lý và HTX phải tạo ra lợi ích hấp dẫn họ. - Nguyên tắc cùng có lợi Theo nguyên tắc này, lợi ích của các thành viên tham gia kinh tế hợp tác đều đƣợc đảm bảo. Đây là nguyên tắc cơ bản, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của HTX. Các xã viên tham gia HTX đóng góp một cách bình đẳng và kiểm soát một cách dân chủ đối với vốn của HTX.
Vốn của HTX thƣờng là tài sản chung của HTX. Các thành viên phải đóng góp vốn vào HTX và nhận đƣợc một khoản bồi hoàn nhất định tùy thuộc theo vốn góp. Các thành viên phân phối khoản thặng dƣ của HTX cho một số hoặc tất cả các mục đích sau: phát triển HTX, xác lập dự trữ mà một phần của nó là tài sản không chia; cho thành viên HTX tùy theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX; hỗ trợ các hoạt động của HTX và của các xã viên tham gia HTX theo quy định của xã viên HTX. - Nguyên tắc quản lý dân chủ HTX là tổ chức mang tính dân chủ đƣợc kiểm soát bởi các thành viên là những ngƣời tham gia vào việc xác định các chính sách và ra quyết định của HTX.
Các xã viên đƣợc tham gia biểu quyết các vấn đề của HTX và mỗi xã viên đều đƣợc một lá phiếu biểu quyết nhƣ nhau. Tính dân chủ trong thực hiện nguyên tắc dân chủ của HTX đƣợc thể hiện bằng việc xã viên đƣợc tham gia thảo luận, thông qua Điều lệ HTX, thông qua phƣơng án sản xuất kinh doanh, xây dựng bộ máy quản lý HTX, tham gia trong các quyết định phân phối lợi nhuận. Thực hiện tốt nguyên tắc này, ngƣời lao động sẽ hăng hái làm việc, vì họ thấy đƣợc quyền lợi cũng nhƣ trách nhiệm của mình đối với HTX. Nguyên tắc từ thấp đến cao Tƣ tƣởng này đã đƣợc C.
Ăng-ghen nêu ra khi các ông tính đến sự chờ đợi, do dự và phải lôi cuốn nông dân, ngƣời bạn đồng minh chiến lƣợc của 8 giai cấp công nhân và cùng với giai cấp công nhân đi lên CNXH. Trong thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP), V. Lênin nêu ra bƣớc đi của quá trình hợp tác từ thƣơng mại rồi dần dần đi vào sản xuất. Thƣơng nghiệp bán buôn có thể liên kết về mặt kinh tế hàng triệu nông dân lại với nhau, làm cho họ có quan hệ gắn bó với nhau, từ đấy dẫn dắt họ đi lên giai đoạn cao hơn là các hình thức hợp tác và liên hiệp trong sản xuất.
Tuy nhiên, trong điều kiện tự do thƣơng mại sẽ nảy sinh hợp tác mang tính chất tƣ nhân tƣ bản, nhƣng Lênin cho rằng dƣới sự kiểm soát của chính quyền chuyên chính vô sản sẽ chuyển các HTX này sang hình thức tƣ bản nhà nƣớc hợp tác xã – nấc thang quá độ lên hợp tác xã XHCN. Về bƣớc đi của quá trình hợp tác hóa, là phải dần dần, từ thấp đến cao, liên tục “tách rời” khỏi kinh tế nông dân. Những chức năng và công việc mà HTX thực hiện sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với từng ngƣời, từng hộ nông dân làm. Trƣớc hết, đó là việc “tách rời” khỏi hộ nông dân những dịch vụ liên quan đến lĩnh vực lƣu thông, và tiến hành trên cơ sở những dịch vụ đó đƣợc các HTX cung ứng tiêu thụ; “tách rời” những việc sơ chế nông sản, và xây dựng những xƣởng chế biến ngay tại cơ sở sản xuất của HTX, thông qua hệ thống HTX theo vùng lãnh thổ, thiết lập các mối quan hệ kinh tế giữa các hộ nông dân với các xí nghiệp công nghiệp, thƣơng mại và đƣa họ đến thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế.
Nhƣ vậy, bƣớc đi của quá trình hợp tác phải dần dần, liên tục phù hợp với quá trình phát triển tự nhiên của kinh tế - xã hội, trên cơ sở phát triển lực lƣợng sản xuất, phân công lao động xã hội và mở rộng sản xuất hàng hóa. Những hành vi vội vàng, thiếu thận trọng khi thực hiện hợp tác nhất định sẽ đƣa lại thất bại trong thực tiễn. Nguyên tắc phải có sự giúp đỡ của Nhà nước Để cho ngƣời nông dân tự nguyện chuyển từ chế độ tƣ hữu ruộng đất sang chế độ HTX (sở hữu tập thể), Mác và Ăngghen đã nhấn mạnh đến sự giúp đỡ của nhà nƣớc vô sản đối với các HTX. Các ông đã nhấn mạnh một trong các nguyên tắc phát triển các HTX là “nhà nƣớc giúp đỡ”.
Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân Pháp Đức”, Mác và Ăngghen sau khi phân tích sự cần thiết chuyển những nông dân sản xuất trên mảnh đất tƣ hữu lên HTX trƣớc khi đợi cho CNTB làm phá sản họ trong 9 quá trình phát triển của nền sản xuất tƣ bản chủ nghĩa (TBCN), đã đề nghị “cần có những hy sinh vật chất” để giúp đỡ nông dân vào các HTX sản xuất, “về mặt ấy, vì lợi ích của nông dân theo quan điểm kinh tế tƣ bản chủ nghĩa, chỉ có tiền vứt qua cửa sổ, nhƣng đó lại là một cách sử dụng tiền tốt nhất, và những hy sinh vật chất đó có thể tiết kiệm đƣợc gấp mƣời lần số tiền phí tổn cho việc cải tổ lại toàn xã hội” [2].