Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn nâng cao năng lực cạnh tranh của hợp tác xã. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các hợp tác xã ở tỉnh Thái Nguyên. Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các hợp tác xã ở tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HỢP TÁC XÃ 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của HTX 1. Một số vấn đề lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Ở phương Tây, giới lý luận nghiên cứu lý luận cạnh tranh trên các mặt kinh tế, chính trị và xã hội đã xoay quanh 4 vấn đề cốt lõi của cạnh tranh là: Cạnh tranh hoặc quy tắc có phải là cơ sở đúng đắn và thích hợp với tố chức xã hội không? Cạnh tranh và hợp tác có phải là phương thức tự nhiên của hành vi con người hay không? Đứng trước vấn đề cạnh tranh, người ta có cách lựa chọn nào khác không? Hành vi cạnh tranh có thể cùng tồn tại một cách hòa thuận với phương thức hành vi xã hội hoặc hành vi tập thể được tuân theo một cách rộng rãi không? (Burkle, Genn-Bash, Haines, 1988).
Theo Các Mác: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch (Các Mác, 1978, Mác - Ăngghen toàn tập, NSB sự thật, Hà Nội, tr422). Theo cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành giật cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình (Adam, 1993). Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì "Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất". Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế, về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: "Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Ở Việt Nam, khi đề cập đến "cạnh tranh" người ta thường là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Từ những nhận định trên, khái niệm cạnh tranh trong kinh doanh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Năng lực cạnh tranh * Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một trong những quan điểm chưa có sự thống nhất, nói đến năng lực cạnh tranh phải nói đến chủ thể của cạnh tranh, do đó không có khái niệm năng lực cạnh tranh nói chung mà khái niệm năng lực cạnh tranh được áp dụng với cả hai cấp độ: cấp vĩ mô đó là năng lực cạnh tranh quốc gia hoặc của cả khu vực và cấp vi mô bao gồm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Ở cấp độ vi mô, có quan điểm cho rằng: "Những DN có khả năng cạnh tranh là những DN đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hóa và dịch vụ, hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tương đối cho phép họ tăng được lợi nhuận (doanh thu - chi phí) và thị phần…" (Michael Dunford, Helen Louri, 1998).
Định nghĩa trên đã phản ánh tương đối toàn diện về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Tác giả Michael Porter cũng thừa nhận không thể đưa ra một khái niệm tuyệt đối về năng lực cạnh tranh. Theo ông, "Để có thể cạnh tranh thành công, các DN phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các DN cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn" (Michael Porter, 1990).
Quan niệm của Porter đã đề cập đến vấn đề cạnh tranh còn bao hàm cả việc DN phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. * Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF - World Economic Forum) thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác (Viện nghiên cứu Quản lý Trung ương và chương trình Phát triển Liên hợp quốc, 2002). Từ những quan điểm trên trên, chúng ta có thể hiểu: Năng lực cạnh tranh của quốc gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra phát triển bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới. * Năng lực cạnh tranh của DN - Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của DN.
Theo quan niệm này, năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng thu lợi của các DN, quan niệm như vậy có thể gặp trong công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995). - Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng chống chịu trước sự tấn công của các DN khác, chẳng hạn Hội đồng chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới. Uỷ ban Quốc gia về hợp tác quốc tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997). Theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một DN không bị DN khác đánh bại về năng lực kinh tế.
Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng được. - Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của DN là sức sản xuất và thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các DN phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế (Bạch Thụ Cường, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của DN.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của DN như sau: Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm,dịch vụ, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. * Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không thể không bàn tới năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất cung cấp. Vì doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì một trong những yếu tố quan trọng là các hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp phải có năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
dịch vụ thể hiện năng lực của sản phẩm. dịch vụ đó thay thế một sản phẩm. dịch vụ khác đồng nhất hoặc khác biệt. có thể do đặc tính.
chất lượng hoặc giá cả sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm. dịch vụ là một trong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Như vậy, người ta thường phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Nhưng nếu trên cùng một thị trường có thể nói năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai khai niệm rất gần với nhau. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm, dịch vụ do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm, dịch vụ tham gia cạnh tranh đều đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả làm cho sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn. Từ việc phân tích các khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh nêu trên, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.