CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ DU LỊCH - DỊCH VỤ HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM TRƯỚC NĂM 2002 1. Các nhân tố tác động đến kinh tế du lịch - dịch vụ huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum 1. Điều kiện tự nhiên Huyện Kon Rẫy là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam tỉnh Kon Tum. Xét về giới hạn địa lý, phía Bắc của Kon Rẫy giáp huyện Kon Plông; phía Nam giáp huyện Chư Pả và huyện Đăk Đoa (tỉnh Gia Lai); phía Tây giáp huyện Đăk Hà và thành phố Kon Tum; phía Đông giáp huyện huyện Kbang (tỉnh Gia Lai).
Huyện Kon Rẫy nằm trên trục quốc lộ 24 nối từ thành phố Kon Tum đi Quảng Ngãi, mạch giao thông khá quan trọng nối phía bắc Tây Nguyên với các tỉnh đồng bằng. Trung tâm huyện Kon Rẫy cách thành phố Kon Tum 26 km về phía đông bắc, cách khu công nghiệp và cảng biển Dung Quất 185 km về phía Đông Nam. Mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện ngày càng phát triển, đặc biệt là tuyến QL24 đi qua huyện đầu tư theo tiêu chuẩn đường cấp III. Đây là tuyến giao thông huyết mạch của huyện, nối thành phố Kon Tum, huyện Kon Rẫy đi Kon Plông, tỉnh Quảng Ngãi và cảng biển Đà Nẵng, Dung Quất.
Bên cạnh đó, các tuyến tỉnh lộ 677, huyện lộ đến trung tâm các xã, thị trấn đã được cứng hóa phục vụ nhu cầu lưu thông, vận chuyển hàng hóa thông suốt 02 mùa. Vị thế địa lí cùng những lợi thế về giao thông đã tạo cho Kon Rẫy một vị trí đặc biệt quan trọng với nhiều thế mạnh để phát triển nhiều ngành kinh tế trong đó có du lịch và dịch vụ. Theo các nhà nghiên cứu, huyện Kon Rẫy (trước đây thuộc Kon Plong) chủ yếu nằm trong dạng địa hình núi trung bình với ba dạng: dọc rải rác dọc theo hệ thống sông Đăk Bla, sông Đăk Kôi, Đăk Sờ Nghé, Đăk Pne thuộc huyện Kon Rẫy ngày nay là địa hình thung lũng. Trong vùng thung lũng có thể chia làm 3 dạng địa hình cực nhỏ gồm các vùng trũng theo hợp thủy sông suối, các thềm, bậc thềm cao trên phù sa cổ ở vùng gò đồi.
Các dạng địa hình này không lớn nhưng có điều kiện khá thuận lợi cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp và bố trí dân cư. Ở những nơi vùng sâu vùng sa của huyện như xã Đăk Kôi, có địa hình hiểm trở, độ chia cắt mạnh bởi núi đồi, sông suối; địa hình núi cao chiếm hầu hết diện tích và được tạo bởi hai lưu vực sông Đăk Snghé và suối Đăk Kôi. Sự chia cắt hiểm trở của địa hình nơi đây đã tạo cho xã có vị trí khá quan trọng, từng được coi là vùng căn cứ cách mạng của H16 và Tỉnh ủy Kon Tum trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Với đặc điểm địa hình nổi bật đó đã mang lại tiềm năng cho Kon Rẫy trong phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ.
9 Cũng giống như thời tiết ở huyện Kon Plong, huyện Kon Rẫy thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm trong vùng phía Tây Trường Sơn, do vậy mang đặc trưng của khí hậu vùng Tây Nguyên, thuộc tiểu vùng khí hậu Kon Tum. Mùa đông khô và ít lạnh, mùa hè ẩm ướt và dịu mát. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến trước tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 - 220C, lượng mưa từ 2000 - 2200 mm, độ ẩm: 80-82%.
Lượng mưa nhiều khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Trong mùa khô, thời tiết hay khô hạn, cây trồng thiếu độ ẩm, cháy rừng thường xuyên xảy ra; mùa mưa gây lũ lụt, xói mòn đất, phá hỏng các công trình thủy lợi và giao thông. Nhìn chung, sự đa dạng của đặc điểm khí hậu cho phép Kon Rẫy đa dạng các loại cây trồng vật nuôi; là nguồn nguyên liệu thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện. Hệ thống sông suối của huyện khá dày đặc và phân bố không đồng đều: Sông Đăk Côi bắt nguồn từ De Ko Trang dãy Ngok Linh và sông Đăk Pne bắt nguồn từ Kon Plong, sông Đăk Snghé (Da Nghé) bắt nguồn từ Ngok Lack (Măng Buk).
Ba con sông này hợp lưu tại vùng Kon Braih tạo thành dòng Đăk Bla chảy về phía Tây Nam men theo các làng Ba Na (Rơ Ngao) thuộc địa phận thành phố Kon Tum hợp với sông Pô Cô tạo thành sông Sê San thuộc địa bàn Sa Thầy đổ về sông Mê Kông ở Campuchia. Sông Đăk Bla là con sông chính chảy qua địa bàn xã Đăk Ruồng với chiều dài 13km. Ở một số xã miền núi như Đăk Kôi, sông chảy qua địa hình chia cắt phức tạp, có độ dốc lớn, nhiều ghềnh đá, quanh co khúc khuỷu. thường khô cạn về mùa nắng nên không phục vụ nhiều cho sản xuất nông nghiệp và giao thông đường thủy.
Về mùa mưa, nước dâng cao, chảy xiết gây ngập úng, nguy hiểm cho việc đi lại của nhân dân. Trên địa bàn huyện một số xã có sông suối vừa và nhỏ có tiềm năng trong phát triển kinh tế - xã hội và du lịch sinh thái của địa phương. Hệ thống sông suối của một số xã nằm ở hạ lưu các con sông nên bề mặt nước lớn tạo thành những thung lũng bằng phẳng nhiều nước. Trên sông Đăk Kôi, Đăk Bla xưa kia có các loại cá như Ka Hlé, Ka Hao, Ka Siêu, Ka Nong, Ka Tbuôn, Ka Smang, Ka Ôn, Long Ót.thường sinh trưởng và phát triển ở thượng nguồn, về phía hạ nguồn có các loại cá như Ka Lé (Cá Niên), Ka Tbuôn (Cá Trầu), Ka Rlong.Nguồn nước các con sông đem lại dồi dào, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và xây dựng các hệ thống thủy lợi, tưới tiêu, góp phần thâm canh, tăng năng suất, ổn định đời sống người dân.
Theo kết quả đo đạc, phân loại của Sở địa chính tỉnh Kon Tum cho thấy trên địa bàn huyện có các loại đất như: đất phù sa, đất xám, đất màu đỏ trên nền Ba Zan, vàng đỏ trên nền mác ma axít. Đất phù sa do suối và sông nhỏ tạo nên như khu vực 10 gần sông Đăk Kôi, Đăk Snghé, Đăk Pne, Địa hình tương đối bằng phẳng, hàng năm đất đai được phù sa bồi đắp, có khả năng khai thác làm ruộng lúa thuận lợi; phát triển tốt các loại cây ngắn ngày như: ngô, lạc mía, đậu, đỗ.Đồng bào còn biết dựa vào dòng sông, con suối để đắp đập ngăn nước làm ruộng hoặc tìm chỗ đất trũng bên các con suối để làm lúa. Nhờ vậy, xã Đăk Ruồng trở thành một trong những địa phương thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số có diện tích lúa nước lớn trong huyện. Đất xám trên nền mác ma axít, phân bố chủ yếu ở xã Đăk Tờ Re, Đăk Ruồng, Tân Lập.
Loại đất này có thể phát triển các loại cây công nghiệp để tăng độ che phủ, chống xói mòn và cải tạo đất. Đất màu đỏ trên nền Ba Zan có diện tích khoảng 5.761 ha tập trung ở xã Tân Lập, Đăk Ruồng phù hợp với cây cà phê, cao su, mía. Đất vàng đỏ trên nền mác ma axít, phân bố ở Đăk Tờ Re, Đăk Ruồng, Tân Lập, Đăk Kôi.đất này thuận lợi trồng cao su. Ở một số xã miền núi vùng sâu như Đăk Kôi, đất đai có nhiều đặc điểm nổi bật riêng có của vùng.
Đất đai nơi đây được hình thành từ vùng đất xám, chịu ảnh hưởng của đá granits và có nhiều mẫu đất khác nhau như: đất xám, đất đen, đất sét nâu vàng, đất mùn đỏ vàng, đất thung lũng dốc tụ, một số đất khá thuận lợi cho việc trồng cây ăn quả và cây lưu niên. Riêng đất sản xuất nông nghiệp (trồng lúa nước và cây màu) chủ yếu là ruộng bậc thang và vùng trũng phân bố ở vùng thung lũng dưới các chân núi, khe suối và ven sông, có vùng pha đất thịt hoặc pha đất cát, có vùng sình lầy, chua phèn, pha cát nên gặp khó khăn trong phát triển các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày có giá trị kinh tế cao. Với sự đa dạng các loại đất thích hợp trồng cây lúa ruộng, lúa rẫy, mì, bắp, khoai lang, đậu và các loại cây ăn quả mít, xoài, chuối, thơm, đu đủ.người dân còn trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su. Ngoài ra còn có các loại đất phù hợp với nhiều loại cây có khả năng khai thác phục vụ sản xuất, phần còn lại bố trí bảo vệ rừng đầu nguồn, môi trường tự nhiên và sinh thủy.
Tài nguyên rừng rất phong phú, rừng bao phủ rộng khắp và chiếm diện tích lớn, trong rừng chứ đựng một hệ động, thực vật khá đa dạng và phong phú. Về động vật có các loài thú rừng như: hổ, hươu, nai, hoẵng (mang), heo rừng, nhím, cheo, trút (tê tê), chồn (cáo), khỉ, chim các loại. Về thực vật có các loại gỗ quý như: trắc (lông Ktră), Sơn (lông Kúi), Hương (lông Năng), cây lá to (lông Rme), Dẽ (lông Sa), Sao (lông Kiar), cây Bảng xa (lông Rlinh), lim, sến, gụ, chò, huỳnh đàn; bên cạnh đó có rừng tre, mây, nứa, Sâm Luh.Như vậy, từ bao đời, rừng là nguồn sinh sống của người dân bản địa, rừng cung cấp mọi nhu yếu phẩm cho đời sống 11 bởi rừng chứa đựng bên trong các loại động thực vật phong phú trong đó có nhiều loại sản vật có giá trị kinh tế cao và phục vụ trực tiếp đời sống con người. Đặc biệt trong chiến tranh, địa hình rừng núi hiểm trở (ở xã Đăk Kôi) vùng căn cứ chiến lược, nơi đứng chân của cơ quan huyện hủy, xưởng Quân khu 5.để từ đây hoạch định ra phương châm và phương hướng chiến lược của huyện và tỉnh để tấn công vào trung tâm sào huyệt của địch.
Rừng Đăk Kôi thật sự đúng là nơi “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Với giá trị quý giá đó, rừng bị khai thác ngày càng nhiều, đến nay một số loài động vật, thực vật bị hao hụt, mất dần, nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng đã và đang là thực trạng chung ở vùng rừng núi nước ta trong đó có xã Đăk Kôi. Với chính sách của Đảng và nhà nước hiện nay, rừng đang ngày càng được quan tâm bảo tồn và giữ gìn. Cơ chế giao đất khoán rừng cho nhân dân quản lí và sử dụng đang phát huy tác dụng.
Nhiều khu rừng nguyên sinh được bảo tồn, việc khai thác có tổ chức kết hợp với trồng mới tái tạo rừng được triển khai đã giữ được màu xanh vốn có của rừng trên địa bàn. Người dân luôn có ý thức cao trong bảo vệ rừng, đặc biệt những cánh rừng đầu nguồn của các con suối dùng trong sinh hoạt theo tập tục của cộng đồng làng.