CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH BỀN VỮNG 1. Phát triển kinh tế du lịch bền vững 1. Quan niệm về du lịch Trong lịch sử nhân loại, từ xa xưa du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “Tonos” - nghĩa là đi một vòng.
Sau này được La tinh hoá thành “Turnur” và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. Theo Robert Langquar, từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hoá nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Về khái niệm du lịch, do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, góc độ tiếp cận khác nhau, mỗi tác giả lại có một cách hiểu khác nhau. Khi điểm lại các công trình nghiên cứu về du lịch, Giáo sư, Tiến sĩ Berkener, một chuyên gia uy tín về lĩnh vực du lịch trên thế giới, đã đưa ra nhận xét: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [13, tr.
Khi bàn về mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, C. Mác (1875) đã chỉ ra: “Sản xuất, coi là trực tiếp đồng nhất với tiêu dùng và tiêu dùng coi là trực tiếp ăn khớp với sản xuất, cái đó các nhà kinh tế học gọi là tiêu dùng sản xuất”, “Tiêu dùng đồng thời cũng trực tiếp là sản xuất, cũng giống như trong tự nhiên, tiêu dùng các nguyên tố hóa chất là sự sản xuất ra thực vật” [25, tr. Du lịch cũng vậy, đây là hoạt động của con người luôn diễn ra đồng thời cả hai mặt sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm du lịch, trong đó, người kinh doanh du lịch tạo ra và cung ứng các sản phẩm du lịch đảm bảo nhu cầu của du khách, còn khách du lịch là những người trả tiền để được tiêu dùng các sản phẩm đó. Chỉ khi hai hoạt động diễn ra đồng thời thì mới đảm bảo một tour du lịch hoàn chỉnh.
Như vậy, du lịch là một hoạt động có sự thống nhất biện chứng giữa người cung cấp và người tiêu dùng các sản phẩm, dịch 10 vụ du lịch. Dựa trên cách tiếp cận trên có thể tách thuật ngữ “Du lịch” thành hai phần để định nghĩa nó: Một là, theo Lê Văn Thắng và cộng sự (2005) du lịch là “sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng” [33, tr. Hai là, Lê Văn Thắng và cộng sự (2005) cũng trình bày du lịch là “một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh” [33, tr. Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp.
Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế lại vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội. Quan niệm về kinh tế du lịch Ở giai đoạn đầu do trình độ phát triển của sản xuất còn thấp, giao thông đi lại khó khăn nên hoạt động du lịch chưa thực sự phổ biến, chủ yếu của vua chúa, quý tộc. Mối quan hệ kinh tế trong hoạt động du lịch còn mang tính ngẫu nhiên, chưa được coi là một ngành kinh tế riêng biệt. Đến giữa thế kỷ XIX, sự phát triển nhanh chóng của du lịch, đã đưa du lịch ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế - xã hội; trên thế giới bắt đầu hình thành một ngành nghề mới, ngành du lịch - lấy doanh lợi làm mục đích gọi là kinh tế du lịch.
Trên thế giới cũng như Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế du lịch. Theo các tác giả Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình (2001) trình bày ở “Kinh tế du lịch & Du lịch học” thì về bản chất “Kinh tế du lịch là một hoạt động kinh tế, là tổng thể các hành vi phối hợp với nhau của hoạt động kinh tế nói chung với hoạt động kinh tế du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu về du lịch” [26, tr. Ở Việt Nam, trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002) định nghĩa: “Kinh tế du lịch là một loại 11 hình kinh tế có tính đặc thù mang tính dịch vụ và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước (tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, kinh tế, văn hóa, lịch sử…) nhằm thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước tổ chức buôn bán xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa dịch vụ cho khách du lịch” [34, tr. Từ các quan niệm trên cho thấy, cách tiếp cận của các tác giả mới chỉ đề cập đến mặt kinh tế - kỹ thuật là chủ yếu mà chưa đề cập hoặc có đề cập thì cũng chưa thực sự rõ nét mặt kinh tế - xã hội trong hoạt động kinh doanh du lịch - đó là yếu tố con người, mối quan hệ, tác động lẫn nhau giữa con người với con người, con người với tự nhiên trong vai trò là chủ thể sáng tạo ra các sản phẩm du lịch và đồng thời cũng là lực lượng tiêu thụ những sản phẩm đó.
Dựa trên góc độ của kinh tế học, tác giả cho rằng kinh tế du lịch là tổng hòa các mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế, kinh tế với xã hội, nó được hình thành trên cơ sở phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa cùng nhu cầu về vật chất, tinh thần ngày càng nâng cao của con người. Từ góc tiếp cận đó, tác giả nhất trí cao với quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Sơn (2007) trình bày luận án “ Phát triển kinh tế du lịch ở vùng du lịch Bắc Bộ và tác động của nó tới quốc phòng - an ninh”: “Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực du lịch dịch vụ, nó là một loại hình kinh tế phản ánh bước tiến mới của lực lượng sản xuất, là quá trình tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch của đất nước thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng cho du khách, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Ở các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì có mục đích, tính chất và chiến lược phát triển kinh tế du lịch khác nhau”. Dựa trên cơ sở quan niệm của các học giả đi trước, tác giả quan niệm: Một là, kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù.
Nó đề cập đến các hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh vực du lịch, trong đó loại hình dịch vụ là chủ 12 yếu. Trên cơ sở tài nguyên du lịch, chủ thể kinh doanh tạo ra những sản phẩm hàng hóa du lịch đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn, hưởng thụ của du khách. Trên thị trường du lịch, ngoài những đặc điểm như hàng hóa nói chung, sản phẩm du lịch còn có các đặc điểm riêng: Nó có thể vừa là vật chất hoặc phi vật chất khi đem ra trao đổi giữa nhà cung cấp du lịch với khách du lịch và cái được đối với du khách là sự cảm giác, trải nghiệm hay hưởng thụ. Sự trao đổi này cũng không làm thay đổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không xảy ra sự dịch chuyển sản phẩm, chỉ là du khách có quyền sở hữu tạm thời sản phẩm du lịch tại nơi mình đến.
Cùng một sản phẩm du lịch có thể bán được nhiều lần cho nhiều du khách khác nhau sử dụng, còn quyền sở hữu trước sau vẫn thuộc về người cung cấp sản phẩm đó (Đồng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình, 2001). Hai là, hoạt động kinh doanh của kinh tế du lịch mang tính thời vụ cao. Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch tồn tại bởi tác động của tập hợp nhiều nhân tố như các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức, kỹ thuật, tâm lý, phong tục, tập quán, cung - cầu trên thị trường… Ngoài ra, tình hình thời tiết, biến đổi khí hậu, thiên tai, quốc phòng - an ninh… cũng là nhân tố tác động đến tính thời vụ trong kinh doanh du lịch. Theo Phạm Trung Lương (2002), một số nhân tố tác động chủ yếu lên cung du lịch, một số khác tác động chủ yếu lên cầu du lịch, có nhân tố tác động lên cả cung và cầu du lịch.
Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch được biểu hiện ra là: các khu du lịch nghỉ mát thường vắng khách vào mùa đông nhưng lại rất đông khách vào mùa hè; các khu du lịch tâm linh thu hút được nhiều khách du lịch vào các mùa lễ hội; các nhà hàng trong khách sạn thường đông khách ăn vào trưa hoặc chiều tối; hoặc các khách sạn gần trung tâm thành phố thường đông khách vào ngày nghỉ cuối tuần… Ba là, chức năng, nhiệm vụ của kinh tế du lịch là tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch của đất nước - gồm các tài nguyên du lịch thiên nhiên (đất đai, khí hậu, sông suối, rừng núi…); tài nguyên du lịch nhân văn (các di tích cổ, kiến trúc cổ, ẩm thực, tôn giáo, hội họa…) , từ đó xây dựng nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước; thực hiện các quan hệ trao đổi, 13 mua bán hàng hóa và dịch vụ du lịch, thu ngoại tệ góp phần tăng thu nhập quốc dân cho địa phương và quốc gia đó (Lê Hoàng, 2001). Bốn là, quá trình phát triển của kinh tế du lịch gắn liền với quá trình vận động phát triển của lực lượng sản xuất.