CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. Một số vấn đề chung về kinh tế biển và phát triển kinh tế biển 1. Khái niệm kinh tế biển Biển có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Biển là kho nước vô tận, là kho tài nguyên, kho thực phẩm vô cùng quý giá, là môi trường nuôi sống con người trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.
Biển là tài sản quý giá của mỗi quốc gia. Nhiều nhà KT học đã nói đến “lục địa xanh” này và họ cho rằng “nền KT tương lai của loài người trước hết là nền KT gắn với biển”, bởi vì đất liền đang mòn mỏi dần vì bị khai thác kiệt quệ tài nguyên; biển có thể mở lối thoát khỏi tình trạng bế tắc về nguyên liệu, nhiên liệu. Chính vì thế mà ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia kể cả những quốc gia không có biển cũng đều chú ý đến việc nghiên cứu, khai thác nguồn lợi từ biển trong quá trình phát triển KT - XH. Tiến ra biển là một chiến lược lâu dài của tất cả các nước.
Vậy, kinh tế biển là gì ? Theo tài liệu Chiến lược khai thác biển của Trung Quốc và một số tài liệu thống kê hàng năm của Trung Quốc thì cho rằng: “KTB bao gồm: Hải sản, khai thác dầu và khí tự nhiên ngoài khơi, các bãi biển, công nghiệp muối, đóng tàu biển, viễn thông và vận tải biển, DL biển, giáo dục và khoa học biển, bảo vệ môi trường biển, dịch vụ biển…”[9]. Khái niệm KTB cũng có thể được hiểu theo nhiều khía cạnh, có tài liệu thì cho rằng: “KTB là hoạt động KT có ba lợi ích KT phục vụ con người rõ ràng nhất là vận tải đường biển, khai thác nguồn tài nguyên phong phú của biển và DL, viễn thông” [26, 33]. Theo tài liệu nghiên cứu về KTB của Đà Nẵng thì cho rằng: “KTB là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động KT trên biển với các hoạt động KT trên đất liền, 5 trong đó biển chủ yếu đóng vai trò khai thác nguyên liệu, cho hoạt động vận tải, hoạt động DL trên biển, còn hầu hết các hoạt động tổ chức SX, chế biến, hậu cần dịch vụ phục vụ khai thác biển lại nằm trên đất liền. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng KHKT trong mấy thập kỷ gần đây cho phép con người có thể khai thác, sử dụng nhiều loại tài nguyên thiên nhiên của biển và đại dương” [28, 3].
Có ý kiến khác cho rằng: do tính đặc thù của môi trường biển, mọi hoạt động KTB đều liên quan mật thiết và được quyết định từ trong đất liền, nên không thể nói về KTB mà không tính tới những hoạt động KT liên quan đến biển ở vùng duyên hải [29]. Nhìn chung tuy tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng các công trình nghiên cứu đều đưa ra quan điểm về nội hàm KTB như sau: - Kinh tế biển hiểu theo nghĩa hẹp là toàn bộ hoạt động KT diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: (1) KT hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); (3) Khai thác dầu khí ngoài khơi; (4) DL biển; (5) Làm muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và (7) KT đảo. - KTB hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động KT trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động KT này lại nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động KTB ở dải đất liền ven biển, bao gồm: (1) Đóng và sửa chữa tàu biển (Hoạt động này cũng xếp chung vào lĩnh vực KT hàng hải); (2) Công nghiệp chế biến dầu, khí; (3) Công nghiệp chế biến thủy, hải sản; (4) Cung cấp dịch vụ biển; (5) Thông tin liên lạc (biển); (6) Nghiên cứu khoa học công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển KTB, điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường biển. Như vậy, cho tới nay khái niệm về KTB, vẫn chưa có sự thống nhất.
Tuy nhiên, hầu hết các quan niệm về KTB đều cho rằng KTB là các hoạt động có liên quan tới biển. Phát triển KTB được hiểu là một trong những nội dung quan trọng trong phát triển KT của quốc gia. Nó thể hiện tầm nhìn dài hạn “hướng ra biển” của quốc gia đó nhằm thúc đẩy hoạt động KTB lên tầm tương xứng với tiềm năng của biển. 6 Từ sự phân tích trên có thể nêu khái niệm về kinh tế biển như sau: Kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và đất liền có liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, sản xuất, kinh doanh các nguồn lợi kinh tế từ biển.
Các ngành, nghề, lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển Kinh tế biển bao gồm các ngành, nghề, lĩnh vực chủ yếu sau: - Ngành khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy, hải sản Ngành khai thác và NTTS là một trong những mặt quan trọng nhất của KTB. Hoạt động đánh bắt và khai thác thủy sản có từ lâu đời và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người. Hoạt động nuôi trồng mới xuất hiện gần đây do giá trị KT của thủy sản là khá lớn và do những tiến bộ về mặt sinh học đã giúp người LĐ hiểu rõ về tập tính sinh hoạt, đặc điểm sinh học của thủy sản. Là lĩnh vực có ý nghĩa trong việc chuyển đổi cơ cấu KT, giải quyết công ăn việc làm và mang lại nguồn thu nhập chính đáng cho người LĐ.
Hoạt động NTTS của nước ta hiện nay là khá tốt do chúng ta chủ động trong khoa học kĩ thuật. Tạo ra được nguồn con giống có chất lượng, tuyên truyền giáo dục được người LĐ nắm bắt được quy trình SX hiện đại. Công nghiệp chế biến thủy, hải sản, đặc biệt là chế biến xuất khẩu đã làm tốt vai trò là cầu nối tạo thị trường để nghề khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản phát triển. - Công nghiệp cảng biển và hàng hải Trong quá trình hội nhập KT quốc tế thì công nghiệp cảng biển và hàng hải là không thể thiếu.
Nó góp phần quan trọng trong việc giao lưu hàng hóa, phát triển thương mại giữa các quốc gia và trong nội bộ quốc gia. Với vị trí địa lý của nước ta công nghiệp cảng biển và hàng hải còn có tiềm năng trở thành một hàng hóa dịch vụ mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân sách nhà nước. Về công nghiệp cảng biển và hàng hải, địa lý Việt Nam mang lại nhiều thuận lợi, nước ta có nhiều cảng lớn có thể đón các tàu có trọng tải lớn như, cảng Cái Lân (Quảng Ninh), cảng Hải Phòng (Hải Phòng), cảng Cam Ranh (Khánh Hòa) … 7 - Công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển Là ngành công nghiệp quan trọng, cung cấp phương tiện cho ngành vận tải biển. Hoạt động của ngành công nghiệp này là đóng mới tàu biển và sửa chữa những tàu biển bị hư hỏng, thường xuyên theo dõi, thực hiện bảo trì theo định kì tàu biển để đảm bảo an toàn cho các phương tiện trong quá trình sử dụng.
- Khai thác và chế biến dầu khí Dầu khí là nguồn tài nguyên quý giá đối với tất cả các quốc gia. Đây là nguồn cung cấp năng lượng phục vụ cho các hoạt động KT trong nền KT quốc dân. Đây là một trong những ngành chủ lực của KTB. Trong những năm qua, hoạt động dầu khí đã được trang bị hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị theo hướng hiện đại như dịch vụ tàu thuyền, sửa chữa các thiết bị khoan, dịch vụ hóa phẩm, dịch vụ phân tích các tạo mẫu, xây lắp các công trình biển, các đường ống dẫn khí, cung cấp LĐ và dịch vụ sinh hoạt.
Đến nay ngành dầu khí đã được xây dựng và phát triển tương đối đồng bộ, từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác chế biến, phân phối kinh doanh dịch vụ… - Ngành DL biển và ven biển Ngành DL nói chung, DL biển và ven biển nói riêng phát triển khi đời sống được nâng cao. Với những lợi thế về vị trí và những dịch vụ như tắm biển, nghỉ mát, bơi thuyền, chăm sóc sức khỏe…đem lại, DL biển đã trở thành một điểm nhấn quan trọng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến với các tỉnh, thành phố biển ở Việt Nam, đem lại một nguồn thu nhập rất lớn không chỉ cho các tỉnh, thành phố mà đây còn là cơ hội để giới thiệu những vẻ đẹp, những tiềm năng của Việt Nam cho thế giới. Đây là ngành có tiềm năng, thế mạnh đã, đang và sẽ đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn, ổn định, lâu dài, góp phần quan trọng vào sự phát triển KT - XH của Việt Nam. - Khai thác muối Khai thác muối là một ngành ra đời từ lâu, gắn chặt với biển và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết.
Tuy giá trị KT không cao nhưng ngành lại có vị trí khá quan trọng vì đây là sản phẩm không thể thiếu cho đời sống. Khai thác 8 muối cũng thu hút được một số lượng lớn LĐ dân cư ven biển. Nước ta có lợi thế về đường bờ biển dài, có 20 tỉnh thành có nghề SX muối, với tổng diện tích 15.000ha và trên 80.000 LĐ nghề muối, đã SX được 800.000 đến 1,2 triệu tấn/năm. Một số đồng muối của miền Trung được đánh giá là muối sạch, ngon của thế giới, có khả năng xuất khẩu với số lượng muối công nghiệp và muối sạch cho tiêu dùng.
Như vậy, KTB rất đa dạng về cơ cấu ngành, nghề. Có thể nói KTB đóng vai trò đặc biệt quan trọng, đóng góp không nhỏ cho quá trình tăng trưởng và phát triển KT của đất nước. Vai trò của phát triển kinh tế biển Trên thế giới có khoảng 45 quốc gia không giáp biển. Đây là sự thiệt thòi lớn đối với họ.
Vị trí địa lý này gây bất lợi lớn trong việc tiếp cận giao thương bằng đường biển với thế giới, từ đó kìm hãm phát triển KT. Lịch sử cho thấy những bước đột phá phát triển mang tầm thế giới cho đến nay hầu như đều bắt nguồn từ những quốc gia biển như Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc. Hệ sinh thái biển đa dạng là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng trăm ngàn loại động vật, thực vật và vi sinh vật. Biển và đại dương là kho chứa "vô tận" thủy hải sản, hóa chất, muối, dầu khí, quặng.