Chương 1. Lý luận chung về kinh doanh qua kênh B2B của doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng kinh doanh qua kênh B2B của Công ty TNHH MTV TM-DV Tân Lực Miền Bắc. Phương hướng và giải pháp phát triển kinh doanh qua kênh B2B của Công ty TNHH MTV TM-DV Tân Lực Miền Bắc.
6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH QUA KÊNH B2B CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về kênh thƣơng mại điện tử B2B của doanh nghiệp 1. Đặc điểm của kênh thương mại điện tử B2B Trước khi tìm hiểu về đặc điểm của kênh thương mại điện tử B2B đầu tiên ta phải hiểu rõ thế nào là Thương mại điện tử và thương mại điện tử B2B Thương mại điện tử là cụm từ được nhắc đển rất nhiều hiện nay, có khá nhiều định nghĩa liên quan đến nó cả về nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp. Nhưng nhìn chung có hai quan điểm lớn sau: TMĐT“theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu về TMĐT của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế”(UNCITRAL): “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng.
Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.” [19] Vậy nên, theo UNCITRAL“có thể thấy rằng phạm vi của TMĐT rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của TMĐT.” Bên cạnh đó, Ủy ban Châu Âu (EU) đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử như sau: “Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung 7 gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công”[17] “Tóm lại, theo nghĩa rộng thì TMĐT có thể được hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử; chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng.” “TMĐT theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet. Các tổ chức như: Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đưa ra các khái niệm về TMĐT theo hướng này. TMĐT được nói đến ở đây là hình thức mua bán hàng hóa được bày tại các trang Web trên Internet với phương thức thanh toán bằng thẻ tín dụng.
Có thể nói rằng TMĐT đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người.” Theo WTO: “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”[20] Khái niệm về TMĐT do OECD đưa ra là: “Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet” [8] “Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹp TMĐT chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax, telex. TMĐT chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hàng trên mạng máy tính mở như Internet. Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ TMĐT.” Còn tại Việt Nam: Tại Nghị định về hoạt động TMĐT của Bộ Thương mại đã trình Chính phủ có ghi rõ tại điều 3 khoản 1: “Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại sử dụng thông điệp dữ liệu”[2]. Luật 8 giao dịch điện tử ngày 29/11/2005 đã quy định rõ về khái niệm về “Thông điệp dữ liệu” tại khoản 12 điều 4 như sau: “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử”.
Cũng theo Luật này tại khoản 10 điều 4 có quy định “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”[13] Như vậy qua các cơ sở trên có thể hiểu tại Việt Nam, TMĐT được hiểu theo nghĩa rộng. Điều này cũng phù hợp với thực tế tại Việt Nam khi mà nhận thức của doanh nghiệp về TMĐT còn khá hạn chế do đó việc hiểu TMĐT theo nghĩa rộng sẽ giúp cho các doanh nghiệp tiếp cận với TMĐT một cách dễ dàng hơn. Đối với thương mại điện tử B2B:“là các giao dịch thực hiện giữa các thành viên của chuỗi quản lý cung cấp hàng hoá/dịch vụ, hay giữa các đơn vị kinh doanh với bất kỳ một đối tác kinh doanh khác bằng việc sử dụng các phương tiện điện tử qua mạng Internet, Intranet và Extranet.”Mô hình này chiếm tới trên 80% doanh số TMĐT trên toàn cầu và ngày càng trở nên phổ biến. Khi tham gia TMĐT B2B, các bên tham gia giao dịch là doanh nghiệp mua, doanh nghiệp bán và doanh nghiệp trung gian trực tuyến.
Đây là bên thứ 3 thực hiện môi giới giao dịch trực tuyến giữa người bán và người mua, nhà môi giới này thường là ảo hoặc có thể vừa ảo kết hợp với truyền thống. Nhìn chung kênh thương mại điện tử B2B có một số đặc điểm nổi bật sau đây: - Chủ thể tham gia:“Trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia giao dịch giống như trong giao dịch thương mại truyền thống (người mua và người bán) đã xuất hiện thêm một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực.“Đây là những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử. Nhà cung cấp dịch vụ mạng có nhiệm vụ chuyển, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử,”đồng thời, họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử.“Các chủ thể tham gia giao dịch TMĐT B2B là các doanh nghiệp. Mục đích của các doanh nghiệp bên mua tham gia là: Mua nguyên vật liệu, hàng hóa cho quá trình sản xuất - kinh doanh.
Đây là mục 9 đích thường thấy nhất của các giao dịch giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong quá trình sản xuất sẽ cần các nguyên liệu đầu vào hoặc trong cần hàng hóa cho quá trình thương mại hóa. Ở đây, doanh nghiệp bên mua sẽ tham gia vào chuỗi cung ứng như một mắt xích trung gian.” - Hàng hoá trong TMĐT: “Thương mại điện tử được coi là một loại hình thương mại có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng. Ngoài các hàng hoá và dịch vụ ''vật thể '' trong các giao dịch thông thường khác, trong thương mại điện tử còn có cả hàng hoá đặc thù của mình đó là “hàng hoá số” và “dịch vụ số”.“Hàng hoá và dịch vụ số là những hàng hóa và dịch vụ có thể phân phối qua cơ sở hạ tầng mạng, bao gồm: các dữ liệu, các số liệu thống kê, thông tin, âm thanh, hình ảnh, phần mềm máy tính, kinh doanh trong bảo hiểm, tài chính,”an ninh và các loại hàng hoá khác.“Mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho quá trình hoạt động, điều hành.
Đây là hoạt động mà các doanh nghiệp bên mua sẽ mua các hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho quá trình hoạt động của Doanh nghiệp. Chẳng hạn, mua máy móc, vật tư, văn phòng phẩm,”phần mềm quản lý…”[8] - TMĐT B2B gắn liền và tác động qua lại với công nghệ thông tin và truyền thông. Nhờ có hệ thống công nghệ thông tin mà kinh doanh qua kênh B2B sẽ thực hiện được và qua truyền thông sẽ giúp khách hàng biết đến doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp. - “Về đàm phán, giao dịch: Việc bán hàng cho các doanh nghiệp phải bao gồm cả các yếu tố như đàm phán về giá cả, việc giao nhận hàng và xác định quy cách, các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm.
Đó cũng chính là lý do tại sao những ứng dụng TMĐT B2B đầu tiên được phát triển chỉ cho những hàng hóa và sản phẩm hoàn chỉnh, đơn giản trong khâu mô tả đặc tính và định giá.” - Không gian thực hiện TMĐT: Một điều khác biệt với các hoạt động thương mại bình thường khác là trong TMĐT không gian họp chợ, chỉ bối cảnh thực tế trong đó người mua, người bán khám phá lẫn nhau và tiến hành giao dịch thông qua 10 mạng viễn thông và Internet. Như vậy TMĐT dùng không gian ảo để tiến hành các hoạt động mang tính thương mại giữa các bên tham gia. - Sự đa dạng về nhu cầu, yêu cầu và khối lượng đơn hàng: TMĐT B2B ít người mua so với tổng số người tiêu dùng. Tuy nhiên các đơn hàng trong giao dịch này thường thực hiện với khối lượng lớn.
Bên cạnh đó là các đòi hỏi về sự đa dạng hàng hoá dựa trên những nhu cầu thực tế. Để đưa ra đưa ra được một quyết định mua hàng phải trải qua một quá trình chọn lọc kỹ lưỡng các doanh nghiệp bán sao cho đáp ứng được yêu cầu của bên mua. Các mô hình thương mại điện tử B2B “Trong vài năm trở lại đây, thế giới đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các trang thương mại điện tử B2B, có thể kể đến như http://www.com/ , Global sources hay ec21,…”Có thể thấy các loại mô hình giao dịch B2B cơ bản như sau: 1. Mô hình giao dịch bên bán Một bên bán nhiều người mua.
Mô hình này thường gọi là chợ điện tử bên bán. Đó là một chợ dựa trên một website và trong đó một doanh nghiệp sẽ bán cho nhiều người mua thông qua cataloge điện tử, thông qua đấu giá trên mạng.