CHƯƠNG I: CƠ SỞ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1 Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ Hiện nay, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những cách thức thanh toán phổ biến nhất trên thế giới. Có rất nhiều những ý kiến khác nhau định nghĩa phương thức tín dụng chứng từ là gì.Trần Văn Hòe (2010): “Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một thỏa thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định đề ra trong thư tín dụng”. Thư tín dụng do một ngân hàng phát hành thể hiện một cam kết chắc chắn là sẽ thanh toán không hủy ngang cho người thụ hưởng nếu người này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với những quy định của thư tín dụng và trong thời hạn của thư tín dụng” Theo định nghĩa trong Điều 2 của “Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (The Uniform Customs and Practice for Documentary credit – UCP600) thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là “Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của Ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Như vậy, có thể thấy phương thức thanh toán TDCT thực chất là một sự thỏa thuận, sự thỏa thuận này sẽ do hai bên NHPH và khách hàng bàn bạc, thảo luận với nhau về các điều khoản trong thư tín dụng dựa trên hợp đồng ngoại thương đã ký, trong đó theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở L/C), một ngân hàng (ngân hàng phát hành L/C) sẽ phát hành một bức thư, theo đó ngân hàng phát hành cam kết sẽ trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho người hưởng khi xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C.
Với phương thức TDCT, NHPH sẽ chỉ mở L/C khi có sự yêu Hoàng Thúy Huyền 3 K16 - NHM Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng cầu từ phía khách hàng là nhà NK, và nội dung của L/C được lập cũng sẽ dựa trên yêu cầu đó, bởi NHPH sẽ chỉ có thể có cơ sở để đòi tiền từ nhà NK khi phát hành đúng L/C mà nhà NK yêu cầu. Trong thư tín dụng, sự cam kết chắc chắn thanh toán từ phía ngân hàng sẽ chỉ có hiệu lực với điều kiện là nhà XK có thể xuất trình được chứng từ phù hợp với quy định của L/C, điều này có nghĩa là một khi nhà XK xuất trình được chứng từ phù hợp thì dù ngân hàng lúc đó có thể đòi được tiền từ nhà NK hay không hay giao dịch giữa hai bên mua bán có thực hiện được không thì chắc chắn vẫn phải thanh toán cho nhà XK.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ Hoạt động TTQT theo phương thức TDCT hiện nay là một trong những phương thức thanh toán quan trọng và phổ biến trên thế giới, phương thức này có nhiều vai trò và lợi ích đối với tất cả các bên tham gia trong quy trình thanh toán này. Đối với người xuất khẩu Phương thức tín dụng chứng từ độc lập với hợp đồng mua bán và các hợp đồng cơ sở khác. Vì thế, khi nhà XK đã giao hàng và tập hợp được bộ chứng từ phù hợp với L/C, việc được thanh toán là chắc chắn.
Dù bất cứ trường hợp phát sinh, ví dụ như hàng hóa bị tổn thất trên đường vận chuyển thì việc hai bên giải quyết đền bù cũng không thể cản trở việc ngân hàng phát hành thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu. Rất có thể xảy ra trường hợp người nhập khẩu gặp rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc là diễn biến giá cả thị trường không có lợi, người nhập khẩu muốn trì hoãn, thậm chí muốn từ chối nhận hàng và thanh toán tiền, gây bất lợi cho người xuất khẩu nhưng với phương thức tín dụng chứng từ thì người xuất khẩu vẫn chắc chắn nhận được tiền của ngân hàng. Nếu như vậy, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào việc nhà xuất khẩu có thể xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo hay không. Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu sẽ tư vấn làm sao người xuất khẩu xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với thư tín dụng.
Một điều có lợi nữa là khi thư tín dụng đã được mở thì người xuất khẩu đã phải có giấy phép chuyển ngoại tệ ra nước ngoài của cơ quan quản lý ngoại hối, điều này có nghĩa là người xuất khẩu sẽ tránh được rủi ro về quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu. Còn đối với các phương thức thanh toán khác như phương thức chuyển tiền (sau khi giao hàng) hay phương thức nhờ thu thì nếu có sự thay đổi nào về quản lý ngoại hối tại nước nhập khẩu đối với đồng tiền thanh toán đã thỏa thuận thì người xuất khẩu sẽ hoàn toàn phải gánh chịu rủi ro này. Đối với nhà nhập khẩu Khi người xuất khẩu và người nhập khẩu chưa có sự tín nhiệm lẫn nhau, chắc chắn một điều là người xuất khẩu không muốn giao hàng trước khi nhận được tiền. Tất nhiên, Hoàng Thúy Huyền 4 K16 - NHM Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng người nhập khẩu cũng không hề muốn trả tiền khi chưa nhận được hàng.
Phương thức tín dụng chứng từ lại chứng tỏ tính ưu việt nổi trội, ngoài việc đứng ra cam kết thanh toán tiền cho người xuất khẩu, ngân hàng cũng sẽ tư vấn cho nhà nhập khẩu về những điều khoản trong hợp đồng để xây dựng một thư tín dụng chặt chẽ, có lợi, đảm bảo nhận được hàng đúng thời hạn được đề ra. Ngân hàng sẽ kiểm tra bộ chứng từ đó có phù hợp với thông lệ quốc tế và luật pháp của từng nước hay không, đồng thời người nhập khẩu cũng kiểm soát được chất lượng cũng như xuất xứ hàng hóa thông qua chứng từ do nhà XK xuất trình do cơ quan kiểm định độc lập cấp. Ngoài ra, một điều mà chúng ta chỉ có thể đạt được ở phương thức thanh toán chứng từ là sau khi nhà nhập khẩu đã tạo được sự tín nhiệm với ngân hàng thì thông thường họ sẽ được ngân hàng cấp cho một hạn mức miễn ký quỹ mở L/C. Điều này sẽ giúp nhà nhập khẩu tránh được việc bị ứ đọng vốn.
Đối với ngân hàng Các quy định ký quỹ L/C giúp ngân hàng phát hành có được một nguồn vốn đáng kể để phục vụ cho các hoạt đồng của mình, đặc biệt đối với những trường hợp ký quỹ 100% giá trị L/C. Ngoài ra, các doanh nghiệp thường không thể xoay vòng vốn được ngay mà bắt buộc phải vay tại ngân hàng phát hành L/C, điều này sẽ thúc đẩy các hoạt động tín dụng cho vay của ngân hàng và giúp quy trình thanh toán được thuận lợi, tạo được mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và các doanh nghiệp. Ngoài ra, thông qua nghiệp vụ thanh toán bằng L/C nên ngân hàng sẽ có một nguồn thu ổn định từ việc mở, sửa đổi, điều chỉnh L/C, phí thông báo, xác nhận L/C. Nghiệp vụ thanh toán L/C khá phức tạp, đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao, có thể nói là cao nhất trong các nghiệp vụ ngân hàng, do đó, các khoản phí liên quan khá cao, tạo nên nguồn thu đáng kể cho ngân hàng.
Tuy nhiên, điều lớn nhất mà phương thức thanh toán L/C mang lại là làm cơ sở để ngân hàng củng cố mối quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, từ đó có cơ hội phát triển, quảng bá, mở rộng mạng lưới mang tính toàn cầu. Đồng thời, giúp ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ ngân hàng thông qua các mối quan hệ, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và đặc biệt thông qua cạnh tranh để hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới không ngừng hoàn thiện để theo kịp sự phát triển chung, nâng cao uy tín và tầm quan trọng trên thị trường tài chính tín dụng quốc tế.3 Nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ 1.1 Qui trình Phương thức TDCT hiện nay là một trong những phương thức có quy trình nghiệp vụ khó và phức tạp nhất. Dưới đây là sơ đồ quy trình của phương thức này: Hoàng Thúy Huyền 5 K16 - NHM Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng (7) (6’) Ngân hàng thông báo Ngân hàng phát hành (3) (9) (8) (2) (4) (6) (7’) (1) Nhà nhập khẩu Nhà xuất khẩu (5) Sơ đồ 1.1: Qui trình nghiệp vụ TDCT Chú thích: (1) Hai bên mua và bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo phương thức L/C. (3) Căn cứ vào đơn xin mở L/C từ phía nhà NK, nếu đồng ý thì NHPH lập L/C và thông qua một ngân hàng đại lý hay chi nhánh của mình ở nước nhà XK để thông báo L/C cho nhà XK.
(4) Khi nhận được L/C, NHTB sẽ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C, nếu L/C là chân thật thì tiến hành thông báo cho nhà XK, nếu không xác định được tính chân thật của L/C thì ngân hàng từ chối thông báo và thông báo cho NHPH về việc này. (5) Sau khi nhận được L/C, nhà XK kiểm tra L/C, nếu thấy L/C là phù hợp thì tiến hành giao hàng cho phía nhà NK. nếu thấy không phù hợp thì tiến hành đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương. (6) và (6’) Sau khi giao hàng, nhà XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình cho NHPH để được thanh toán.
Hoàng Thúy Huyền 6 K16 - NHM Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng (7) và (7’) NHPH sau khi nhận được bộ chứng từ sẽ tiến hành kiểm tra chứng từ, nếu thấy xuất trình là phù hợp thì thanh toán cho phía nhà XK, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán hoặc hỏi ý kiến nhà NK để giải quyết. (8) Nhà NK tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho NHPH (9) NHPH trao bộ chứng từ cho nhà NK.