Chương 1: Tiếp cận nghiên cứu tỷ giá và chính sách tỷ giá Chương 2: Cơ sở lý luận của tỷ giá và chính sách tỷ giá Chương 3: Thực trạng tỷ giá của Việt Nam qua các giai đoạn Chương 4: Xây dựng chính sách tỷ giá của Việt Nam theo định hướng 2020 3 CHƢƠNG 1 TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Nghiên cứu về lựa chọn chế độ tỷ giá Trên thế giới. Fenkel, 1999,trong “ No single currency regime is right for countries or at all times” đã khẳng định điều quan trọng nhất để trả lời câu hỏi một quốc gia nên áp dụng chế độ tỷ giá cố định hay thả nổi là phải xem xét quy mô và mức độ mở cửa của quốc gia đó. Tại Việt Nam Nguyen Tran Phuc and Nguyen Duc Tho, 2009, “ Exchange rate policy in Viet Nam, 1985 – 2008”, cho biết chế độ tỷ giá Việt Nam giai đoạn này không phải là “ thả nổi có quản lý”.Bài nghiên cứu đã rất quan tâm tới tỷ giá thực đa phương (REER) và cho rằng sự thay đổi của chỉ số này cần phải được theo dõi sát sao.TS Nguyễn Thị Thu Thảo, trong luận án “ Đổi mới và hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” ( 1995), đã phân tích lợi thế cũng như hạn chế của chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods và chế độ tỷ giá linh hoạt, từ đó khẳng định “ chế độ tỷ giá hỗn hợp phù hợp và đạt hiệu quả tối ưu hơn cả” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của NHNN “Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp trong điều kiện hiện nay” (2009) đã khẳng định cơ chế tỷ giá hiện nay của Việt Nam là cơ chế linh hoạt có quản lí, việc sử dụng công cụ tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên độ tỷ giá đã góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ và tác động của biến động tỷ giá trên thị trường nước ngoài, hạn chế tình trạng nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán.
Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội đã có bài nghiên cứu “ Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế” (2010), trong đó nêu rõ Việt Nam đang theo đuổi cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh, và có phần hoạt động không hiệu 4 quả trong thời gian sau đó. Nghiên cứu về hiệu ứng tác động của tỷ giá tới dự trữ ngoại hối trong Bảng cân đối tiền tệ của NHTW Juan Calos Berganza, Roberto Chang và Alicia Garcia Herrero ( 2004) kết luận: hiệu ứng bảng cân đối tiền tệ là nguyên nhân chính làm gia tăng rủi ro của một quốc gia. Đặc biệt, hiệu ứng của việc phá giá tới bảng cân đối tiền tệ là mạnh nhất khi một quốc gia đang trong giai đoạn khủng hoảng. Yin- Wong Cheung và Hiro Lto (2007) cho rằng dự trữ ngoại hối của một quốc gia chịu tác động bởi các yếu tố tài chính ( nợ nước ngoài) và thể chế ( ví dụ chế độ tỷ giá) Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ giá PGS.TS Nguyễn Đình Thọ ( 2011), trong “ Biến động cán cân thanh toán và vấn đề nhập khẩu lạm phát ở Việt Nam” đã chứng minh khi giá hàng hóa tính theo VND tăng nhanh hơn biến động giá hàng hóa theo USD trên thế giới, lạm phát ở Việt Nam sẽ biến động ngoài khả năng kiểm soát.
Trên website của NHNN Việt Nam có đăng tải Phần 1 bài viết của hai tác giả Nhật Trung và Nguyễn Hồng Nga với tiêu đề “ Hiệu ứng trung chuyển tác động của tỷ giá tới giá cả và lạm phát”. Các tác giả đã giới thiệu các công trình nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện bởi các nhà kinh tế học thế giới. Tuy nhiên, trong phần này, các tác giả chưa đề cập tới nghiên cứu của mình dành cho Việt Nam. Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự ( 2010) đã kết luận Việt Nam Đồng vẫn cần phải yếu đi để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, tuy nhiên các biện pháp can thiệp khác như hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật cần tiếp tục được sử dụng để giảm bớt sức ép phá giá đồng nội tệ.
Đặng Thị Huyền Anh ( 2011) với “ Tác động tỷ giá thực tế đến cán cân thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã tính toán đồng thời hệ số co dãn của cầu xuất nhập khẩu trước thay đổi của tỷ giá thực đa phương. Tác giả đã chọn 1999 làm năm cơ sở và đưa vào nghiên cứu 5 quốc gia và khu vực Nhật Bản, Trung Quốc, Australia, Châu Âu và Hoa Kì. Tuy nhiên, tác giả chưa đưa Singapore, Thái Lan và Hàn Quốc, những đối tác quan trọng của Việt Nam vào rổ tiền tệ. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
Phƣơng pháp so sánh Phương pháp này được thực hiện với số liệu thu thập từ NHNN, Tổng cục thống kế và các tổ chức tài chính quốc tế để so sánh Việt Nam với một số nước ( chủ yếu là các nước châu Á) về chế độ tỷ giá cũng như dự trữ ngoại hối qua các thời kì và các biến số kinh tế vĩ mô như chỉ số giá xuất nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng,. Phƣơng pháp tổng hợp, diễn dịch, quy nạp Phương pháp này thống kê lại toàn bộ quá trình biến động của các biến số kinh tế, nhằm đưa ra cái nhìn khách quan, tổng thể, đánh giá sự biến thiên và nguyên nhân của sự thay đổi đó. 6 CHƢƠNG 2 CỞ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 2. TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ 2.
Khái niệm tỷ giá Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hệ thống tiền tệ riêng. Tuy nhiên, nhu cầu tham gia vào các lĩnh vực thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và các quan hệ tài chính quốc tế khác đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau. Việc thanh toán giữa các quốc gia yêu cầu việc chuyển đổi đồng tiền của nước thứ 3. Vì vậy, vấn đề chuyển đổi đồng tiền giữa các quốc gia xác định giá trị giao dịch thanh toán có ý nghĩa rất quan trọng.
Điều này đã nảy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế. Vậy tỷ giá hối đoái là gì? Theo từ điển kinh tế học Routledge của Donald Rutherford [78], tỷ giá là giá của một đồng tiền tính bằng đồng tiền khác. Theo Từ điển Thuật ngữ Tài chính (Dictionary of Financial Terms) [91], tỷ giá là mức giá tại đó đồng tiền của quốc gia này có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia khác. Trong Từ điển Tài chính Farlex (Farlex Financial Dictionary) [92], tỷ giá được định nghĩa là tương quan sức mua/giá trị giữa hai đồng tiền.
Theo Từ điển Oxford (Oxford Dictionaries) [96], tỷ giá là giá trị của một đồng tiền khi chuyển đổi sang một đồng tiền khác. Như vậy, có thể nói tỷ giá là “mức giá tại đó đồng tiền của một quốc gia/khu vực có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia/khu vực khác”. Xét trong phạm vi thị trường của một nước, các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một tỷ giá nhất định. Do đó có thể hiểu tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ một nước được biểu hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác hay là bằng số lượng ngoại tệ nhận được khi đổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tê.
Chẳng hạn ở Việt Nam người ta thường nói đến số lượng đồng Việt Nam nhận được khi đổi một đồng USD. Phân loại tỷ giá 2.Phân loại theo đối tượng xác định - Tỷ giá chính thức: Tỷ giá này do ngân hàng trung ương một nước xác định. Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi theo mức tỷ giá này. - Tỷ giá thị trường: Đây là tỷ giá được xác định theo quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.Phân loại theo phương tiện chuyển đổi ngoại hối - Tỷ giá điện hối: Đây là loại tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện.
Các loại tỷ giá khác được xác định trên cơ sở tỷ giá này. - Tỷ giá thư hối: Đây là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.Phân loại theo thời điểm mua bán ngoại hối - Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá được công bố vào đầu giờ của đầu ngày giao dịch. - Tỷ giá đóng cửa: Là tỷ giá được công bố vào cuối ngày giao dịch. - Tỷ giá giao nhận ngay: Là tỷ giá mà việc giao nhận ngoại hối sẽ được thực hiện chậm nhất sau 2 ngày làm việc.
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: Là tỷ giá mà việc giao nhận ngoại hối sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng.Phân loại theo nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối - Tỷ giá mua: Là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào. - Tỷ giá bán: Là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra. Ngoài tỷ giá mua bán giữa các ngân hàng và các doanh nghiệp, cá nhân, còn có tỷ giá mua bán giữa các NHTM với nhau (được gọi là tỷ giá liên ngân hàng). Tác động của tỷ giá đến nền kinh tế 2.Tác động đến cán cân thương mại quốc tế Để thanh toán được các hoạt động nảy sinh trong thương mại quốc tế, các chủ thể thường phải dựa vào tỷ giá hối đoái.
Khi tỷ giá thay đổi sẽ tác động đến thương mại quốc tế. Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, có nghĩa là đồng nội tệ có giá trị giảm xuống so 8 với đồng ngoại tệ. Việc này sẽ có tác động thúc đẩy xuất khẩu nhưng lại hạn chế nhập khẩu. Vì cùng một lượng nội tệ sẽ đổi được ít ngoại tệ hơn nên hàng xuất khẩu sẽ rẻ hơn, dễ cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Trong khi đó, cùng một lượng ngoại tệ lại đổi ra được nhiều nội tệ hơn nên hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn. Ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái giảm xuống sẽ có tác động hạn chế xuất khẩu và thúc đẩy nhập khẩu. Từ đó gây nên mất cân đối cán cân thanh toán quốc tế.Tác động đến hoạt động đầu tư quốc tế Hoạt động đầu tư quốc tế cũng liên quan đến việc chuyển đổi giá trị giữa các đồng tiền nên nó cũng chịu ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá hối đoái.