Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tài chính, ngân hàng thương mại giữ vai trò trung gian huyết mạch đối với việc luân chuyển vốn của nền kinh tế. Hoạt động cấp tín dụng là mảng kinh doanh mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng thương mại, song cũng là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao nhất. Tổn thất phát sinh từ rủi ro tín dụng làm phát sinh chi phí trích lập dự phòng, gián đoạn dòng thu nhập lãi, đe dọa khả năng thanh khoản và có thể lan truyền tiêu cực tới toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia. Rủi ro này mang tính tất yếu khách quan, không thể loại trừ hoàn toàn mà đòi hỏi ngân hàng phải thiết lập cơ chế kiểm soát, định vị khẩu vị rủi ro và áp dụng các biện pháp phòng ngừa thích hợp.

Khóa luận được thực hiện tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) – ngân hàng được thành lập vào năm 2013 trên cơ sở hợp nhất giữa Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank). Trong giai đoạn sau hợp nhất, bên cạnh áp lực cạnh tranh gia tăng thị phần và duy trì tăng trưởng lợi nhuận, PVcomBank đối mặt với yêu cầu thiết lập hệ thống quản trị rủi ro tín dụng bài bản, kiểm soát nợ xấu và bảo đảm an toàn vốn.

Tác giả xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Khái quát cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại.
  2. Phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng, nhận diện các nguyên nhân phát sinh rủi ro và xem xét các phương pháp quản trị rủi ro đang vận hành tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam giai đoạn 2015 – 2017.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam trên cơ sở lý luận và kết quả phân tích thực tiễn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank).
    • Thời gian: Tập trung phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2015 – 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận rủi ro tín dụng dựa trên các định nghĩa quốc tế và văn bản quy phạm tại Việt Nam. Theo Hiệp ước Basel (2010) và Rose (2002), rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng tổn thất một phần hoặc toàn bộ khoản vay do các biến cố đe dọa năng lực thanh toán của người đi vay (phá sản hoặc cố tình từ chối trả nợ). Dự thảo Thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hệ thống kiểm soát nội bộ cũng định nghĩa rủi ro tín dụng là tổn thất phát sinh do bên nhận cấp tín dụng hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.

Về phân loại, khóa luận xem xét rủi ro theo nhiều góc độ:

  • Căn cứ nguyên nhân: Rủi ro khách quan (thiên tai, dịch bệnh, biến cố bất khả kháng) và rủi ro chủ quan (sử dụng vốn sai mục đích, gian lận hồ sơ, sai phạm đạo đức nghề nghiệp).
  • Căn cứ phạm vi phát sinh: Rủi ro danh mục (bao gồm rủi ro nội tại của ngành và rủi ro tập trung do dồn vốn vào một khu vực/ngành nghề/khách hàng) và rủi ro giao dịch (gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ).
  • Căn cứ khả năng trả nợ: Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn và rủi ro mất khả năng chi trả.

Khung quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) được xây dựng qua quy trình 5 bước khép kín:

  1. Nhận diện rủi ro (thẩm định khách hàng, đánh giá phương án vay vốn và tài sản bảo đảm);
  2. Đo lường rủi ro (áp dụng mô hình định lượng tính toán xác suất vỡ nợ PD, tỷ lệ tổn thất khi vỡ nợ LGD, dư nợ tại thời điểm vỡ nợ EAD và tổn thất dự kiến theo công thức: $\text{EL} = \text{PD} \times \text{LGD} \times \text{EAD}$);
  3. Giám sát và báo cáo (theo dõi khoản vay có vấn đề, xếp hạng tín dụng định kỳ);
  4. Dự phòng rủi ro (trích lập dự phòng chung và dự phòng cụ thể theo quy định pháp luật);
  5. Xử lý rủi ro (thu hồi nợ, phát mại tài sản, cảnh báo sớm).

Theo chuẩn mực Basel II, khóa luận phân tích hai phương pháp tiếp cận vốn cho rủi ro tín dụng: Phương pháp chuẩn hóa (Standardised Approach - SA) với các trọng số rủi ro cố định gán theo mức xếp hạng bên ngoài, và Phương pháp xếp hạng nội bộ (Internal Ratings-Based - IRB, gồm FIRB cơ bản và AIRB nâng cao) cho phép ngân hàng sử dụng tham số tự tính toán (PD, LGD, EAD). Ngoài ra, mô hình tỷ suất sinh lời trên vốn có điều chỉnh rủi ro (RAROC) được đề cập như công cụ định giá khoản vay gắn với chi phí vốn.

  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các kỹ thuật thống kê mô tả, thu thập số liệu, so sánh tương đối - tuyệt đối, phân tích chỉ tiêu tài chính và tổng hợp lý luận.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán, Báo cáo thường niên của PVcomBank các năm 2014, 2015, 2016, 2017; các văn bản pháp quy của Ngân hàng Nhà nước (như Thông tư 02/2013/TT-NHNN, Nghị quyết 42/2017/QH14); tài liệu khảo cứu kinh nghiệm của các ngân hàng quốc tế (KDB Hàn Quốc, ANZ Úc) và ngân hàng trong nước (BIDV, VietinBank).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở luận về quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, nguồn gốc gây ra rủi ro tín dụng từ phía khách hàng (sai mục đích vốn, quản lý dòng tiền kém, gian lận), từ phía ngân hàng (chính sách nới lỏng, cán bộ thẩm định yếu kém, vi phạm quy trình đạo đức) và từ môi trường kinh tế - pháp lý (biến động thị trường, thiếu đồng bộ trong hành lang xử lý tài sản bảo đảm).

Tác giả tổng hợp kinh nghiệm quản trị rủi ro thực tiễn từ các định chế tài chính:

  • Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB): Vận hành lộ trình 5 giai đoạn: Giai đoạn 1 (tính toán PD, LGD, EAD để xác định EL và tổn thất ngoài dự kiến UL); Giai đoạn 2 (lượng hóa tổn thất toàn danh mục); Giai đoạn 3 (quản trị vốn kinh tế và định giá bù đắp rủi ro); Giai đoạn 4 (quản lý danh mục chủ động qua công cụ chứng khoán hóa nợ); Giai đoạn 5 (quản lý theo giá trị - VBM). KDB thiết lập hạn mức tín dụng hai cấp (theo ngành và theo khách hàng), nếu vượt giới hạn phải trình Chủ tịch HĐQT phê duyệt.
  • Ngân hàng ANZ (Úc): Sử dụng xếp hạng nội bộ theo chuẩn mực S&P và Basel II; áp dụng chỉ số RAROC làm chuẩn phê duyệt (chỉ cấp tín dụng khi RAROC cao hơn chi phí vốn chủ sở hữu ROE); tổ chức quản trị độc lập ba bộ phận (Kinh doanh, Quản trị rủi ro, Quản trị nợ); duy trì kiểm tra sức chịu tải (stress test) định kỳ.
  • BIDV và VietinBank (Việt Nam): Tách bạch rõ rệt giữa bộ phận bán hàng với bộ phận thẩm định độc lập; triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phân loại theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN; thành lập công ty xử lý nợ chuyên trách (BAMC).

Từ đó, chương 1 đúc kết các bài học cốt lõi cho PVcomBank: Cần xác định khẩu vị rủi ro rõ ràng, thiết lập hệ thống hạn mức theo ngành, phân quyền phê duyệt độc lập, ứng dụng công nghệ tập trung dữ liệu và từng bước chuẩn hóa theo Basel II.

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại PVcomBank

Chương 2 mô tả quá trình hình thành của PVcomBank theo Quyết định số 279/GP-NHNN ngày 16/09/2013, vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, hai cổ đông lớn gồm Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (52%) và Morgan Stanley (6,7%), mạng lưới gồm 116 điểm giao dịch.

Giai đoạn 2015 – 2017, hoạt động của ngân hàng chịu tác động từ bối cảnh quốc tế (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tăng lãi suất, đồng Nhân dân tệ giảm giá, Brexit) và môi trường trong nước (tín dụng toàn ngành tăng trưởng, Nghị quyết số 42/2017/QH14 tháo gỡ vướng mắc thu giữ tài sản bảo đảm).

Về quy mô tài sản và nguồn vốn của PVcomBank qua các năm được tác giả tổng hợp như sau:

Chỉ tiêu tài chính Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Tổng tài sản (triệu đồng) 98.605.445 108.298.461 113.958.167 116.582.529
Vốn chủ sở hữu (triệu đồng) - 10.081.625 10.042.077 10.063.266
Lợi nhuận trước thuế (triệu đồng) - 70.655 35.812 36.810

Dư nợ cho vay và ứng trước khách hàng năm 2017 đạt 55.171 triệu đồng (sau trích dự phòng), tăng trưởng 12,94% so với năm 2016; tỷ trọng cho vay khách hàng chiếm bình quân 62% tổng tài sản. Về cơ cấu nguồn vốn, nợ phải trả chiếm khoảng 91,36% tổng tài sản (trong đó tiền gửi từ dân cư và tổ chức kinh tế chiếm hơn 80%). Tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng áp đảo 89,3%, tiền gửi không kỳ hạn chỉ chiếm khoảng 10%; nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam (VND) chiếm 88%.

Cơ cấu tín dụng theo loại hình cho vay được phân tích tại Bảng 1 trong văn bản:

Loại hình cho vay Dư nợ 2015 (triệu đồng) Tỷ trọng 2015 (%) Dư nợ 2016 (triệu đồng) Tỷ trọng 2016 (%) Dư nợ 2017 (triệu đồng) Tỷ trọng 2017 (%)
Cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước 40.335 93,94 - - - -
Cho vay chiết khấu công cụ chuyển nhượng, GTTG 2.334 0,03 - - - 0,30
Cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư 2.699 6,02 - - - -
Nợ cho vay được khoanh và nợ cần xử lý 6.557 0,01 - - - -
Tổng cộng 42.926 100,00 - - - -

Dư nợ cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước luôn chiếm trên 90% tổng dư nợ. Nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá năm 2015 chiếm 0,005%, đến năm 2017 tăng lên mức 0,3%.

Về phân loại theo đối tượng doanh nghiệp, Bảng 2 của khóa luận phản ánh cơ cấu năm 2015: Khối tổ chức kinh tế đạt 42.227 triệu đồng (chiếm 97,96%), trong đó Doanh nghiệp nhà nước chiếm 9,29% (5.900 triệu đồng), Công ty TNHH chiếm 11,89% (6.428 triệu đồng), Công ty Cổ phần chiếm 36,42% (16.032 triệu đồng), Hợp tác xã, hộ kinh doanh và cá nhân chiếm 40,04% (12.600 triệu đồng), Doanh nghiệp tư nhân chiếm 0,32% (147,267 triệu đồng).

Khóa luận đánh giá ngân hàng đã bước đầu hình thành hệ thống chính sách cấp tín dụng tập trung và các chốt kiểm soát rủi ro. Tuy vậy, các hạn chế còn bộc lộ: Lợi nhuận trước thuế năm 2016 sụt giảm 48,62% so với 2015 trước khi phục hồi nhẹ vào năm 2017 (chủ yếu nhờ mảng mua bán chứng khoán đầu tư); áp lực chi phí vốn lớn do phụ thuộc vào tiền gửi có kỳ hạn; công cụ đo lường rủi ro định lượng theo Basel II chưa hoàn thiện; hệ thống cảnh báo sớm và giám sát nợ sau giải ngân còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố định tính của cán bộ tín dụng.

Chương 3: Giải pháp về quản trị rủi ro tín dụng tại PVcomBank

Chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp nhằm giải quyết các tồn tại phát hiện ở Chương 2:

  1. Xác định khẩu vị rủi ro: Ban hành khung khẩu vị rủi ro lượng hóa cụ thể về tỷ lệ nợ xấu tối đa, hạn mức tín dụng theo từng ngành kinh tế (đặc biệt các ngành có rủi ro chu kỳ như bất động sản, năng lượng) và trần cấp tín dụng cho nhóm khách hàng liên quan.
  2. Hoàn thiện hệ thống văn bản nội bộ: Rà soát, chuẩn hóa quy trình cấp tín dụng, quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cá nhân trong chuỗi phê duyệt, loại bỏ các kẽ hở pháp lý nội bộ.
  3. Kiện toàn cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro: Thực hiện triệt để nguyên tắc độc lập giữa bộ phận phát triển kinh doanh (bán lẻ, bán buôn) với bộ phận thẩm định, tái thẩm định và bộ phận quản lý rủi ro độc lập; giảm dần mức ủy quyền phê duyệt phán quyết tín dụng tại các chi nhánh về trụ sở chính.
  4. Xây dựng công cụ đo lường rủi ro tín dụng định lượng: Nghiên cứu áp dụng mô hình tính toán xác suất vỡ nợ PD, tỷ lệ tổn thất khi vỡ nợ LGD nhằm phục vụ việc phân loại nợ tự động và trích lập dự phòng chính xác theo chuẩn mực Basel II.
  5. Giám sát danh mục và quản lý nợ có vấn đề: Thiết lập hệ thống chỉ báo cảnh báo sớm đối với các khoản vay phát sinh dấu hiệu chậm nộp báo cáo tài chính, dòng tiền qua tài khoản suy giảm hoặc trễ hạn thanh toán lãi; tách riêng bộ phận xử lý nợ tồn đọng.
  6. Ứng dụng công nghệ thông tin: Hiện đại hóa hệ thống Core Banking, số hóa hồ sơ tín dụng, tích hợp cơ sở dữ liệu khách hàng tập trung nhằm giảm thiểu sai sót tác nghiệp của con người.
  7. Nâng cao năng lực và chuẩn mực đạo đức cán bộ: Đào tạo chuyên sâu kỹ năng phân tích dòng tiền dự án, thẩm định tài sản bảo đảm và tăng cường kiểm tra chéo, kiểm toán nội bộ nhằm phòng ngừa vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
  • Kiến nghị với cơ quan quản lý:
    • Đối với Nhà nước: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về xử lý nợ xấu, đồng bộ các quy định liên quan đến đăng ký và xử lý tài sản bảo đảm thi hành án theo tinh thần Nghị quyết 42/2017/QH14.
    • Đối với Ngân hàng Nhà nước: Nâng cấp hệ thống thông tin tín dụng quốc gia (CIC), mở rộng cơ sở dữ liệu định danh khách hàng, ban hành lộ trình hướng dẫn chi tiết về triển khai trụ cột 1 và trụ cột 2 của Basel II cho các ngân hàng quy mô vừa.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu thực nghiệm:

    • Cung cấp bức tranh số liệu về tình hình tài chính của PVcomBank trong giai đoạn 2014 – 2017: Tổng tài sản tăng từ 98.605.445 triệu đồng (2014) lên 116.582.529 triệu đồng (2017); vốn chủ sở hữu giữ mức quanh 10.063.266 triệu đồng; lợi nhuận trước thuế biến động mạnh từ 70.655 triệu đồng (2015) giảm xuống 35.812 triệu đồng (2016) và đạt 36.810 triệu đồng (2017).
    • Phân tích cơ cấu tín dụng cho thấy danh mục cho vay của PVcomBank tập trung phần lớn vào khối tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước (trên 90%), trong đó nhóm khách hàng doanh nghiệp cổ phần và hộ kinh doanh/cá nhân chiếm tỷ trọng chi phối (lần lượt 36,42% và 40,04% trong cơ cấu khách hàng doanh nghiệp năm 2015).
    • Xác định cơ cấu huy động vốn tồn tại điểm nghẽn thanh khoản tiềm ẩn khi tiền gửi có kỳ hạn chiếm 89,3% tổng huy động khách hàng, tạo áp lực lớn lên lãi suất biên và biên độ an toàn tín dụng.
  • Đóng góp của đề tài:

    • Tổng hợp khung lý thuyết có hệ thống về mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiện đại theo Basel II và mô hình thực hành tại các ngân hàng phát triển (KDB Hàn Quốc, ANZ).
    • Khóa luận là một trong số ít các nghiên cứu khảo sát chi tiết thực trạng quản lý tín dụng tại PVcomBank ngay trong giai đoạn chuyển đổi tái cơ cấu hậu sáp nhập (2015 – 2017), chỉ rõ các hạn chế trong cơ cấu bộ máy và công cụ định lượng nợ xấu.
    • Hệ thống hóa bộ giải pháp quản trị rủi ro có tính logic từ xây dựng khẩu vị rủi ro, tách biệt bộ máy kiểm soát đến các kiến nghị cụ thể cho Ngân hàng Nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Khóa luận giới hạn dữ liệu khảo sát trong mốc thời gian 2015 – 2017, chủ yếu khai thác các số liệu công bố công khai từ Báo cáo tài chính thường niên, thiếu các chuỗi dữ liệu vi mô chi tiết về tỷ lệ nợ xấu từng nhóm nợ (từ nhóm 1 đến nhóm 5) theo thời gian thực do rào cản bảo mật thông tin nội bộ của ngân hàng.
    • Tác giả chưa sử dụng các mô hình kinh tế lượng định lượng (như hồi quy đa biến OLS, mô hình FEM/REM) để kiểm định thực nghiệm mối tương quan giữa tỷ lệ nợ xấu (NPLR), hệ số an toàn vốn (CAR) tới hiệu quả sinh lời (ROE, ROA) tại PVcomBank như các nghiên cứu quốc tế đã đề cập ở phần tổng quan.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi thời gian sau năm 2017 nhằm đánh giá toàn diện hiệu quả xử lý nợ xấu sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Thông tư số 41/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực đầy đủ.
    • Ứng dụng mô hình kinh tế lượng đo lường thực tế mức độ tác động của các tham số rủi ro tín dụng (PD, LGD) đến chi phí dự phòng rủi ro và tỷ suất sinh lời tại PVcomBank.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị rủi ro, Tài trợ thương mại cần tài liệu tham khảo về khung lý thuyết quản trị tín dụng và quy trình cấp tín dụng thực tế.
    • Cán bộ nghiệp vụ tại các phòng ban Quản lý rủi ro, Tái thẩm định, Quản lý tín dụng tại các ngân hàng thương mại quy mô vừa trong việc xây dựng mô hình kiểm soát độc lập.
    • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến quá trình tái cấu trúc hoạt động ngân hàng sau sáp nhập tại Việt Nam (nghiên cứu điển hình PVFC sáp nhập WesternBank thành PVcomBank).
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Nội dung Chương 1 phân tích mô hình quản lý rủi ro 5 giai đoạn của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB) và việc sử dụng chỉ số RAROC tại ANZ.
    • Dữ liệu Chương 2 cung cấp số liệu phản ánh chi tiết cơ cấu tín dụng theo loại hình cho vay và loại hình doanh nghiệp của PVcomBank giai đoạn 2015 – 2017.

Câu hỏi thường gặp

1. PVcomBank được thành lập từ những tổ chức tài chính nào và có cơ cấu sở hữu ban đầu ra sao?
PVcomBank được thành lập theo Quyết định số 279/GP-NHNN ngày 16/09/2013 của Ngân hàng Nhà nước trên cơ sở hợp nhất giữa Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank). Ngân hàng có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, tổng tài sản ban đầu gần 100.000 tỷ đồng, với hai cổ đông lớn là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (nắm giữ 52%) và cổ đông chiến lược Morgan Stanley (nắm giữ 6,7%).

2. Lợi nhuận trước thuế của PVcomBank biến động thế nào trong giai đoạn 2015 – 2017?
Năm 2015, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đạt 70.655 triệu đồng. Bước sang năm 2016, chỉ tiêu này giảm mạnh 48,62%, xuống còn 35.812 triệu đồng. Đến năm 2017, lợi nhuận trước thuế phục hồi nhẹ lên mức 36.810 triệu đồng, chủ yếu đóng góp từ hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư.

3. Cơ cấu huy động vốn của PVcomBank giai đoạn nghiên cứu bộc lộ điểm đáng lưu ý nào?
Nợ phải trả chiếm tới 91,36% tổng tài sản vào năm 2017. Trong nguồn vốn huy động từ khách hàng, tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 89,3%, trong khi tiền gửi không kỳ hạn chỉ chiếm khoảng 10%. Cơ cấu này tạo ra áp lực chi phí trả lãi rất lớn, đòi hỏi ngân hàng phải giải ngân vào các tài sản có lợi suất cao để bảo đảm biên độ lợi nhuận.

4. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB) được tác giả phân tích gồm những giai đoạn nào?
Hệ thống KDB vận hành theo lộ trình 5 giai đoạn: Giai đoạn 1 (tính toán tham số PD, LGD, EAD và lượng hóa tổn thất EL, UL theo Basel II); Giai đoạn 2 (đo lường tổn thất danh mục ELp, ULp và rủi ro tập trung); Giai đoạn 3 (quản trị vốn kinh tế và định giá cho vay theo rủi ro); Giai đoạn 4 (quản lý rủi ro danh mục chủ động ACPM thông qua ngân quỹ tín dụng và chứng khoán hóa nợ); Giai đoạn 5 (quản lý rủi ro trên cơ sở giá trị VBM).

5. Tác giả đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tại PVcomBank?
Tác giả kiến nghị PVcomBank cần thực hiện nguyên tắc tách bạch độc lập giữa đơn vị kinh doanh (chỉ đóng vai trò bán hàng, đề xuất) với các đơn vị độc lập xây dựng chính sách, hạn mức danh mục, thẩm định và phê duyệt; đồng thời thu hẹp mức ủy quyền phê duyệt phán quyết tín dụng đối với các chi nhánh, tập trung quyền kiểm soát và thẩm định rủi ro về trụ sở chính.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Phương Hoa đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng và đối chiếu với thông lệ quản trị tại các ngân hàng trong và ngoài nước. Công trình đã phản ánh thực trạng tài chính, cơ cấu danh mục cho vay và những áp lực về chi phí vốn, nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) giai đoạn 2015 – 2017 sau sự kiện hợp nhất. Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất bám sát nhu cầu chuẩn hóa bộ máy giám sát độc lập, xây dựng khung khẩu vị rủi ro và hoàn thiện công cụ đo lường định lượng theo hướng tiếp cận chuẩn mực Basel II.