chương I định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (Luật Du lịch, 2017). Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về du lịch nhưng nhìn chung, các định nghĩa và khái niệm về du lịch đều liên quan đến các dạng chuyển cư đặc biệt, trong một khoảng thời gian và các hoạt động của con người tại điểm đến đó. Có thể thấy du lịch là sự kết hợp nhiều thành phần: khách du lịch, phương tiện vận chuyển, dân cư địa phương, các nhà cung cấp dịch vụ và sản phẩm. Đồng thời ngành du lịch cũng là một ngành kinh tế tổng hợp, liên quan và tác động đến nhiều ngành kinh tế khác.
Ngày nay khi nền kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch ngày càng phát triển. Vì vậy mà có rất nhiều loại hình du lịch phục vụ những nhu cầu đa dạng của con người. Các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch * Loại hình du lịch - Phân theo mục đích chuyến đi Mục đích chuyến đi là động lực thúc đẩy hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch của con người. Do đó, cách phân loại này còn được gọi là căn cứ vào động cơ hay căn cứ vào nhu cầu.
Theo cách phân loại này có nhiều loại hình du lịch đó là: du lịch văn hóa, du lịch thể thao, du lịch khám phá, du lịch tham quan, du lịch nghỉ ngơi giải trí, du lịch tôn giáo, du lịch hội nghị, du lịch mạo hiểm, du lịch thăm thân, du lịch kinh doanh. - Phân theo lãnh thổ hoạt động Du lịch quốc tế (International tourism): liên quan đến các chuyến đi vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ (biên giới) quốc gia của khách du lịch. Loại hình du lịch này có thể 5 được chia nhỏ thành hai loại: du lịch quốc tế đến (Inbound tourism) là chuyến viếng thăm của những người từ các quốc gia khác; du lịch ra nước ngoài (Outbound tourism) là chuyến đi của cư dân trong nước đến một nước khác. Du lịch trong nước (Internal tourism): là chuyến đi của cư dân trong phạm vi quốc gia của họ.
Du lịch nội địa (Domestic tourism): bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến. Du lịch quốc gia (National tourism): bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài (Phạm Trung Lương, 2000). - Một số cách phân loại khác Căn cứ vào đặc điểm địa lý của nơi đến du lịch bao gồm du lịch biển, núi, du lịch thành phố (đô thị), nông thôn (đồng quê, trang trại, miệt vườn). Căn cứ vào phương tiện giao thông bao gồm du lịch xe đạp và phương tiện thô sơ, du lịch xe máy, ô tô, du lịch tàu thuỷ, tàu hoả, du lịch máy bay.
Căn cứ vào phương tiện lưu trú bao gồm du lịch ở khách sạn, nhà trọ, bãi cắm trại, làng du lịch. Căn cứ vào thời gian du lịch bao gồm du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày. Căn cứ vào lứa tuổi bao gồm du lịch thiếu niên, thanh niên, trung niên và du lịch cao niên. Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch bao gồm du lịch theo đoàn, du lịch gia đình và du lịch cá nhân.
Căn cứ vào phương thức hợp đồng bao gồm du lịch trọn gói và du lịch từng phần (Vũ Đức Minh, 1999). * Sản phẩm du lịch - Khái niệm về sản phẩm du lịch Theo Luật Du lịch (2017) “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”. Có thể thấy rằng để có được sản phẩm du lịch cần có những yếu tố sau: - Dịch vụ: bao gồm dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung. 6 - Tài nguyên du lịch: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch.
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa” (Luật Du lịch, 2017). Tài nguyên du lịch gồm có tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. - Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch. - Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch (Luật Du lịch, 2017) 1.
Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa 1. Khái niệm du lịch văn hóa a. Khái niệm về văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Từ trước tới nay, cả phương Đông và phương Tây đều có nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa.
Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “Văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau về Văn hóa. Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (1952), hai nhà nhân loại học người Mỹ đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới.
Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,. và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng rất khác nhau (Alfred Kroeber and Clyde Kluckhohn, 1952) 7 Theo Tylor (1871), ông cũng đã đưa ra định nghĩa về Văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” (Tylor E. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người. Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người.
Một định nghĩa khác về văn hóa mà A. Kroeber và Kluckhohn (1952) đưa ra là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”… (Alfred Kroeber and Clyde Kluckhohn, 1952) Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau. Hồ Chí Minh (1995) khi còn bị giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh, 1995).
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người. Theo định nghĩa này thì văn hóa là những gì đối lập với thiên nhiên, do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc. Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra.
Theo UNESCO (1994), văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”… (UNESCO, 1994) Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.