CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Khái niệm, đặc điểm của du lịch a. Khái niệm du lịch Mặt dù hoạt động du lịch đã xuất hiện rất lâu và phát triển với tốc độ nhanh, song cho đến ngày nay khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất.
Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh: “ Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Năm 1930, Clusmam - người Thụy Sỹ cho rằng “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chổ cư trú thường xuyên”. Tháng 6-1991, tại Otawa (Canada) diễn ra Hội nghị Quốc tế về thống kê Du lịch cũng đưa ra định nghĩa. “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm”.
Theo Luật du lịch Việt Nam thì “Du lịch là một hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú 8 với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật … Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ. Trong khuôn khổ luận văn này, khái niệm du lịch được hiểu theo nghĩa thứ hai của Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tức là xem xét du lịch dưới góc độ một ngành kinh tế. Đặc điểm của du lịch + Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch có loại do thiên nhiên tạo ra nhưng có loại do quá trình phát triển lịch sử qua nhiều thế hệ của con người tạo ra. Đây là cơ sở khách quan để hình thành nên các tuyến, các điểm du lịch.[11] + Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách du lịch. Những người đi du lịch thường có mức tiêu dùng cao hơn so với tiêu dùng bình quân của đại bộ phận dân cư. Vì vậy, ngành du lịch phải là một ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ cho các nhu cầu về nghỉ ngơi, đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí, mua hàng và các dịch vụ khác để có thể đáp ứng các nhu cầu của khách hàng.
+ Du lịch ngoài kinh doanh dịch vụ ra còn phải đảm bảo nhu cầu về an ninh, chính trị và trật tự xã hội cho du khách, cho địa phương và cho các quốc gia tiếp nhận du khách. +Ngành du lịch là ngành dịch vụ nên việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố chủ quan và khách quan và chủ quan. Vì vậy, việc 9 đảm bảo doanh thu và phát triển ổn định của ngành du lịch là rất khó so với các ngành sản xuất khác. + Ngành du lịch mang tính thời vụ.
Do đó, ảnh hưởng rất lớn tới việc sử dụng lao động. Đây là bài toán khó cho các nhà quản lý. + Du lịch có thể làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến tài nguyên của đất nước do khai thác không hợp lý, làm phát sinh các xáo trộn hoặc xói mòn các giá trị văn hóa truyền thống… Với các đặc điểm trên thì du lịch là ngành đặc biệt có nhiều đặc điểm và tính chất pha trộn vào nhau tạo thành một tổng thể phức tạp vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế xã hội. Phân loại du lịch Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa ra.
Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây.[10] - Phân chia theo môi trường tài nguyên - Phân loại theo mục đích chuyến đi - Phân loại theo lãnh thổ hoạt động - Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch - Phân loại theo phương tiện giao thông - Phân loại theo loại hình lưu trú - Phân loại theo lứa tuổi du lịch - Phân loại theo độ dài chuyến đi - Phân loại theo hình thức tổ chức - Phân loại theo phương thưc hợp đồng 1. Phát triển du lịch a. Khái niệm phát triển “Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng 10 xã hội. Phát triển được xem là sự thay đổi về chất hơn là về lượng.
Phát triển cũng thường đi kèm với những thay đổi quan trọng trong cấu trúc nền kinh tế theo hướng tiến bộ, hiện đại và hiệu quả hơn. Phát triển du lịch Du lịch là ngành dịch vụ hoạt động trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn những nhu cầu vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, các nét đẹp văn hóa… của dân cư các miền khác nhau trên thế giới để thu được lợi nhuận. Trên khái niệm phát triển và định nghĩa về du lịch được giới thiệu ở trên chúng ta có thể xác định được định nghĩa của phát triển du lịch cụ thể: Phát triển du lịch chính là sự gia tăng sản lượng và doanh thu cùng mức độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch. Ngoài ra,còn một vài khái niệm liên quan tới việc phát triển du lịch như: Khách du lịch: Là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cư trú.
Sản phẩm du lịch: Là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều yếu tố hợp thành, cung cấp cho thị trường chủ yếu ở các mặt: Nhà ở, nơi lưu trú, giao thông du lịch, cung cấp ăn uống, du ngoạn tham quan, hạng mục vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, tuyến du lịch, sắp xếp chương trình và các dịch vụ chuyên môn khác.[14] Thị trường du lịch: Thị trường du lịch được quan niệm là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế thể hiện ra trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch. Ý nghĩa kinh tế, xã hội của việc phát triển du lịch a. Về mặt kinh tế Đối với du lịch nội đia + Du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân 11 (sản xuất ra đồ lưu niệm, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật…). + Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng.
+ Bên cạnh đó, du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội. Ngoài ra du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch quốc tế được hiệu quả hơn. Đối với du lịch quốc tế + Dịch vụ du lịch có giá trị xuất khẩu cao và hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong các hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc biệt là theo góc độ thu ngoại tệ và thu hút lao động, tạo công ăn việc làm. Xuất nhập khẩu dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến cán cân thanh toán của toàn bộ nền kinh tế.
Để đẩy mạnh xuất nhập khẩu dịch vụ nhằm giảm dần nhập siêu và tiến tới cải thiện cán cân dịch vụ trong thập niên này. + Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất. Tính hiệu quả trong kinh doanh du lịch được thể hiện ở chỗ, du lịch là một mặt hàng “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chế, nông lâm sản… theo giá bán lẻ cao hơn do người bán sẽ không tốn kém nhiều chi phí giao hàng, vận chuyển, bảo hiểm, thuế xuất nhập khẩu, có khả năng thu hồi vốn nhanh và lãi cao do nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp cần khả năng thanh toán. +Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài:Trong điều kiện lạc hậu nghèo nàn và thiếu vốn đầu tư, Việt Nam rất cần hiện đại hoá nền kinh tế.
Bên cạnh các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các hình thức liên doanh, liên kết với các nước ngoài trong kinh doanh du lịch cũng đã đem lại lợi nhuận kinh tế cao. + Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế với 12 các nước trên thế giới. Tính đến nay,Việt Nam đã ký nhiều hiệp định hợp tác du lịch với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ; trở thành thành viên chính thức của hiệp hội Du lịch Đông Nam Á (ASEANTA); mở rộng quan hệ hợp tác du lịch với thị trường lớn như: Liên bang Nga và các nước Đông Âu cũ; Liên minh châu Âu; Hoa Kỳ; Trung Quốc; Nhật Bản… + Phát triển du lịch có liên quan trực tiếp tới mở rộng giao lưu văn hóa. Những di sản văn hóa trên lãnh thổ một quốc gia là một chủ bài lớn để thu hút du khách nước ngoài, và từ đó nảy nở những mối giao thương khác.
Mặt khác, khi bạn bè hay đối tác nước ngoài tới tìm hiểu đất nước ta, tìm hiểu con người, xã hội và các cơ hội làm ăn với Việt Nam, dĩ nhiên điều tối thiểu là họ phải được tiếp đón với những chuẩn mực văn minh hiện đại. Nhưng như thế chưa đủ.