Chương I quy định "KDL là người đi DL hoặc kết hợp đi DL, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến" [21]. Tại Điều 34, chương V qui định: KDL bao gồm KDL nội địa và KDL quốc tế. "KDL nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi DL trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam". "KDL quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam DL, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài DL" [21].
Sản phẩm du lịch Theo Michael M.Coltman: “Sản phẩm DL là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” [32]. Theo cách hiểu khác, sản phẩm DL là "các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó" [3]. Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): "Sản phẩm DL là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách DL trong chuyến đi DL" [21]. Như vậy hiểu một cách chung nhất, sản phẩm DL là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các TNDL đáp ứng nhu cầu 13 c của KDL.
Sản phẩm DL được hiểu "là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của KDL trong chuyến đi DL" [32]. Loại hình du lịch Các hoạt động DL rất phong phú và đa dạng. Tùy yêu cầu và mục đích mà hoạt động DL được xếp vào các loại hình DL khác nhau. - Phân loại theo mục đích chuyến đi gồm DL thuần túy và DL kết hợp.
- Phân loại theo TNDL có DL văn hóa và DL sinh thái. - Phân loại theo lãnh thổ hoạt động có DL trong nước và DL quốc tế. - Phân loại theo vị trí địa lí gồm DL biển, DL núi, DL đô thị, DL đồng quê. - Phân loại theo thời gian của cuộc hành trình có DL ngắn ngày và DL dài ngày.
- Phân loại theo việc sử dụng các phương tiện giao thông có DL xe đạp, DL ô tô, DL máy bay, DL tàu hỏa, DL tàu thủy. - Phân loại theo hình thức tổ chức: DL có tổ chức theo đoàn, DL cá nhân và DL gia đình. Ngoài các cách phân loại trên còn có một số cách phân loại khác như: Theo lứa tuổi – đối tượng khách, theo phương thức hợp đồng, theo địa điểm lưu trú, … [32]. Chức năng của du lịch a.
Chức năng xã hội DL giải quyết việc làm cho nhiều lao động, cải thiện đời sống nhân dân. DL có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, phục hồi sức khỏe của con người. Trong chừng mực nào đó, DL có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, tăng cường sức sống và khả năng lao động của con người. Các công trình nghiên cứu về sinh học đã khẳng định: Nhờ chế độ nghỉ ngơi và DL hợp lý, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%; bệnh đường hô hấp giảm 40%; bệnh thần kinh giảm 30%.
Hàng năm, đa số tổ chức và doanh nghiệp đều thực hiện những kỳ nghỉ nhằm phục hồi sức khỏe, gắn kết các thành viên trong cộng đồng [23], [30]. 14 c Sự phát triển của ngành DL góp phần quảng bá các di tích lịch sử - văn hóa, những danh lam thắng cảnh của đất nước và đem lại nguồn thu lớn để trùng tu, tôn tạo những giá trị văn hóa. Đồng thời cũng nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường. Chức năng kinh tế DL được coi là một ngành "xuất khẩu vô hình", sự phát triển của DL mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần tăng thu nhập quốc dân, đa dạng hóa và thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển theo "cấp số nhân" [9], [32].
Sự phát triển của DL đòi hỏi phải có cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng của ngành nói riêng và của xã hội nói chung. Các địa phương nhất là các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa khó khăn về giao thông, sản xuất nông nghiệp được tăng cường cơ sở vật chất hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ thuật sẽ tạo ra tiền đề phát triển kinh tế. Chức năng sinh thái Nhờ có DL, con người nhất là các cư dân thành thị được tiếp xúc nhiều hơn và sống hòa hợp hơn với môi trường thiên nhiên, kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi trường thiên nhiên xung quanh nhờ sự thay đổi về thái độ và hành vi đối với môi trường thiên nhiên, nâng cao nhận thức của con người về giá trị của tự nhiên. Việc tham quan các danh lam thắng cảnh và gần gũi với tự nhiên tạo điều kiện cho KDL tìm hiểu và hình thành thói quen bảo vệ môi trường.
Chức năng chính trị DL là phương tiện hữu hiệu để giáo dục về truyền thống dân tộc, về lòng yêu quê hương đất nước. Nó là nhân tố mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc, thúc đẩy giao lưu quốc tế, củng cố hòa bình giữa các quốc gia và được coi là "giấy thông hành của hòa bình" [32]. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch a. Vị trí địa lí Vị trí địa lí được coi như một yếu tố tiền đề có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của ngành DL.
Vị trí địa lí bao gồm vị trí địa lí về mặt tự nhiên (tọa độ địa lí, giới hạn lãnh thổ) và vị trí địa lí kinh tế - xã hội. Đồng thời vị trí địa lý có ý nghĩa về mặt giao thông, giao lưu trao đổi các loại hình dịch vụ. Với ngành DL, cần chú ý đến vị trí của điểm đến nằm trong khu vực phát triển DL ở mức độ nào và khoảng cách từ điểm đến tới nơi phát sinh cầu DL. Tuy nhiên, để xét điểm đến DL chịu ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực từ vị trí địa lí còn phải xét loại hình DL [32].
Tài nguyên du lịch TNDL là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm DL. Sự đa dạng, phong phú, đặc sắc và mới mẻ của TNDL tạo nên sức hấp dẫn của sản phẩm DL. Số lượng, chất lượng và sự phân bố của các dạng TNDL ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, số lượng, chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động DL. TNDL còn ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu và chuyên môn hóa của vùng DL.
Quy mô hoạt động DL của một lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng tài nguyên và nó quyết định tính mùa vụ, tính nhịp điệu của dòng KDL [3], [32]. Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị Sự phát triển của nền sản xuất xã hội làm nảy sinh nhu cầu nghỉ ngơi, phát triển các hoạt động dịch vụ DL. Nền sản xuất xã hội càng phát triển thì nhu cầu DL của người dân càng cao, chất lượng dịch vụ càng đa dạng. Trong nội bộ nền kinh tế, hoạt động của một số ngành như: công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng để phát triển DL.
Trên phạm vi toàn cầu, DL quốc tế ngày càng mở rộng và nó chỉ có thể phát triển được trong bầu không khí hòa bình, ổn định, trong tình hữu nghị giữa 16 c các dân tộc. Trên thực tế, những đất nước hòa bình, ổn định thường thu hút đông đảo KDL tới tham quan. Ngược lại, thông qua DL quốc tế, con người có nguyện vọng được sống, lao động trong hòa bình và tình hữu nghị. Nhu cầu nghỉ ngơi DL mang tính chất KT - XH và là sản phẩm của sự phát triển xã hội.
Nhu cầu nghỉ ngơi DL là một hệ thống và được thể hiện ở 3 mức độ: Xã hội, nhóm người và cá nhân. Trong đó quan trọng hàng đầu là nhu cầu nghỉ ngơi của xã hội, nhu cầu này quyết định cấu trúc của ngành DL và được phản ánh qua các hình thức tổ chức lãnh thổ của nó. Bên cạnh đó, những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ trong thế kỉ XX và sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa, sự đảm bảo về điều kiện sống cùng với sự gia tăng nhanh tỉ lệ dân số đô thị là những nhân tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động DL [32]. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kĩ thuật Cơ sở hạ tầng đặc biệt là mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu có vai trò thúc đẩy DL phát triển.
Chỉ có mạng lưới giao thông thuận tiện, thông tin liên lạc nhanh chóng thì DL mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội. Cơ sở vật chất kĩ thuật DL có vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm DL cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng DL nhằm thỏa mãn nhu cầu du khách. Do vậy, sự phát triển của ngành DL bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật. Cơ sở vật chất – kỹ thuật DL và TNDL có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Khả năng tiếp nhận của TNDL là cơ sở để xác định công suất các công trình phục vụ DL. Sự kết hợp hài hòa giữa TNDL và cơ sở vật chất – kỹ thuật của ngành giúp cho các cơ sở dịch vụ hoạt động có hiệu quả và kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm. Vì thế, TNDL là căn cứ để bố trí hợp lí cơ sở vật chất – kĩ thuật theo lãnh thổ và là tiền đề căn bản để hình thành các trung tâm DL [3], [32]. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Tổ chức lãnh thổ DL là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng DL và các cơ sở phục vụ có liên quan, dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn TNDL, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất.
Trong hệ thống phân vị các hình thức tổ chức lãnh thổ DL gồm có: Điểm DL, tuyến DL, khu DL, cụm DL và trung tâm DL [29], [32]. Điểm du lịch Điểm DL là cấp phân vị thấp nhất trong 5 cấp phân vị lãnh thổ DL, là kết quả đầu ra trước tiên của hệ thống lãnh thổ DL theo sơ đồ của Ce – caspar [30].