Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch ở địa phương Chương 2: Thực trang phát triển du lịch tại thành phố Uông Bi, tinh Quang Ninh Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tại thành phố Uông Bi, tinh Quảng Ninh 17 CHUONG1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE PHAT TRIEN DU LICH Ở DIA PHƯƠNG 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển du lich ở dia phương 1.1 Các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch ở địa phương Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu khoa học, hội nghị và bài báo liên quan được đăng trên nhiều tạp chí về nội dung phát triển du lịch, bao gồm: “Nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã phân tích về những cơ hội, thách thức của du lịch Việt Nam dựa vào kết quả nghiên cứu từ mô hình kinh tế “Thái Lan 4.0” và mô hình “du lịch 4.0” của Thái Lan. Tác giả thấy rằng các dự án Du lịch 4.0 đã mang lại những giá trị tạo nên sự thành công cho ngành du lịch tại Thái Lan nên việc phân tích dự án này sẽ là nền tảng cho việc đề xuất những giải pháp cho phát triển du lịch Việt Nam. “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Đồng Nai” của Hà Nam Khánh Giao và Huỳnh Diệp Trâm Anh là nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích SWOT kết hợp phân tích nhân tố khám phá EFA, tương quan hồi quy và phần mềm SPSS để tìm ra các nhân tố tác động đến sự phát triển du lịch của tỉnh Đồng Nai. Hai tác giả đã tìm ra 6 nhân tố có tác động đến việc thu hút khách du lịch là: tài nguyên du lịch nhân văn, 4m thực và dich vụ hỗ trợ, dịch vụ du lịch, cơ sở hạ tầng, sản phẩm du lịch và thái độ người dân, điểm thu hút du lịch.
Từ đó, đề xuất đến chính quyền tinh Đồng Nai điều chỉnh sự tác động của những nhân tổ thông qua các chính sách dé nâng cao thu hút khách du lịch. Nhận thấy rằng du lịch Tuyên Quang chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương, tác giả Trần Thị Kim Oanh đã đưa ra các gợi ý chiến lược marketing địa phương nhăm phát triển du lịch cho tỉnh Tuyên Quang với bài nghiên cứu “Phát triển du lịch gắn với chiến lược Marketing địa phương tại tỉnh Tuyên Quang”. Các gợi ý chiến lược marketing địa phương được tác giả đưa 18 ra là các chiến lược về marketing hình ảnh địa phương, marketing đặc trưng địa phương, marketing cơ sở hạ tang, marketing con người nhằm giúp Tuyên Quang định vị được hình ảnh, đặc trưng của địa phương, phát triển được cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực du lịch từ đó đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu. “Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên ven biển Phú Yên và định hướng phát triển du lịch” của Võ Thị Ngọc Hiền đã trình đặc điểm các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên ven biển và đánh giá mức độ thuận lợi của một số đề xuất để khai thác giá trị của các điểm tài nguyên du lịch này cho phát triển du lịch Phú Yên.
Hiện nay các vấn đề về phát triển hoạt động du lịch đang được quan tâm nghiên cứu ở cấp độ quốc gia, tuy nhiên số lượng các nghiên cứu ở cấp độ địa phương chưa nhiều. Quảng Ninh là trung tâm du lịch lớn của cả nước nhưng những nghiên cứu về phát triển ngành du lịch còn hạn ché. Đặc biệt thành phó Uông Bi là một điểm du lịch mới nên rất cần nhận được sự quan tâm nghiên cứu. Dưới đây là một số các công trình nghiên cứu bởi các tác giả trong giới học thuật trong và ngoài tỉnh.
Các lý thuyết về phát triển du lịch bền vững đã được tác giả Vương Minh Hoài (2011) sắp xếp một cách có hệ thống. Đánh giá tiềm năng và hiện trạng tăng trưởng du lịch Quảng Ninh trên quan điểm phát triển bền vững, rút ra bài học kinh nghiệm của các nước. Trên cơ sở các yêu tô kinh tế, xã hội và môi trường, tác giả nghiên cứu những lợi ích và hạn chế của hoạt động phát triển du lịch tại tỉnh Quảng Ninh. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp giúp du lịch Quảng Ninh phát triển bền vững trên các bình diện kinh tế, xã hội và môi trường.
Bài nghiên cứu mối quan hệ cộng sinh giữa phát triển du lịch với sản xuất nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn thành phó Uông Bi, tinh Quảng Ninh của nhóm tác giả Trần Xuân Biên, Nguyên Xuân Thành, Đỗ Nguyên Hải đã nâng cao sự gan 19 bó giữa sản xuất nông nghiệp của địa phương với hoạt động du lịch một cách hiệu qua nhất. Dựa vào đó, nhóm tác giả đưa ra giải pháp giúp phát triển du lịch thông qua việc hỗ trợ lẫn nhau từ mô hình gắn kết của mối quan hệ này. Bên cạnh những nghiên cứu về cả hoạt động du lịch chung của địa phương, cũng có những nghiên cứu cụ thé về phát triển du lịch sinh thái và du lịch tâm linh thành phố Uông Bi. Tác giả Vũ Thị Thuy (2012) đã lựa chọn khu du lịch sinh thái Lung Xanh — thành phố Uông Bi làm đề tài nghiên cứu.
Với mong muốn khai thác và phát triển du lịch sinh thái góp phần làm phong phú, đa dạng du lịch địa phương, từ đó phát triển kinh tế của tỉnh, tác giả làm rõ các tiềm năng và thực trạng điểm du lịch này sau đó đưa ra một số đề xuất, giải pháp giúp thúc day du lịch hiệu quả. Từ những lý luận về phát triển du lịch bền vững và thực trạng phát triển du lịch bền vững tại tập đoàn Tuần Châu, tác giả Nguyễn Xuân Ky (2020) đưa ra những đề xuất một số giải pháp dé phát triển du lịch bền vững của tập đoàn Tuần Châu trong giai đoạn 2020-2025 với các giải pháp về quản trị bền vững, nâng cao tính bền vững về văn hoá — xã hội, nâng cao bền vững về môi trường sinh thái. Tác giả Lê Phạm Nhật Duy (2021) đã phân tích thực trạng và đánh giá tiềm năng về du lich tâm linh tại tỉnh Quảng Ninh sau đó đưa ra những giải pháp dé tinh Quảng Ninh phát triển du lịch tâm linh. Các nghiên cứu về thành phố Uông Bí phục vụ du lịch còn quá ít mặc dù có rất nhiều chủ đề về phát triển du lịch.
Có thể nói, cho đến thời điểm này chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, tập trung vé sự tăng trưởng, phát triển du lich của thành phố Uông Bi, tỉnh Quang Ninh.2 Khoảng trống nghiên cứu Thứ nhất, các nghiên cứu trước đây đều tập trung về du lịch tâm linh hoặc chỉ cụ thể một địa điểm du lịch, khu du lịch tại địa bàn thành phố nên chưa khai thác được các tiềm năng về các loại hình du lịch khác cũng như đưa ra những dé xuất, giải pháp phù hợp. 20 Thứ hai, các địa phương, vùng lãnh thé khác nhau sẽ có những điều kiện và đặc thù riêng, đặc biệt là giá trị cốt lõi của mỗi địa phương nên kết quả và các giải pháp trong những nghiên cứu trên sẽ khó áp dụng trọn vẹn, hiệu quả cho thành phố Uông Bí.2 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch ở địa phương 1. Khái niệm du lịch Mọi người trên khắp thế giới hiện đang sử dụng rộng rãi và phô biến thuật ngữ “du lịch”. Tuy nhiên, có rất nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau liên quan đến nguồn góc của thuật ngữ này.
Theo một sé học giả, du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “Tonos” nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được Latinh hoá thành “Turnur” và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dao chơi, còn “Touriste” là người đi dao chơi. Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “Tourism” (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng những năm 1800 và được quốc tế hoá nên nhiều nước đã không dịch nghĩa mà sử dụng trực tiếp. Một số học giả khác lại cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hy Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi toàn thế giới, v.
Vì vậy, nhìn chung có sự bất đồng về nguồn gốc của cụm từ du lịch; tuy nhiên, ý nghĩa cơ bản của thuật ngữ này là “đi từ nơi này đến nơi khác và quay trở lại” Từ “du lịch” trong tiếng Việt được dịch theo âm Hán - Việt: du có nghĩa là “đi chơi” và lịch có nghĩa là “trải nghiệm”. (Nguyễn Minh Tuệ, 2014) Cũng tương tự về nguồn gốc, quan niệm về du lịch cũng có nhiều ý kiến không giống nhau từ nhiều cá nhân. Định nghĩa “du lịch là sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực hành của những chuyên đi với mục đích giải trí” xuât hiện lân đâu tiên tại nước Anh vào 21 năm 1811. Y tưởng khá đơn giản va xem giải trí mục đích chính của hoạt động du lịch.
(Nguyễn Minh Tuệ, 2014) Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung - cầu du lịch, đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”. Đối lập với các khái niệm nêu trên, khái niệm cua Hunziker va Krapf đã thé hién tuong đối thấu đáo và toan diện hiện tượng du lịch. Đặc điểm của các hiện tượng du lịch và các mối quan hệ (các hiện tượng, mối quan hệ đó thuộc về kinh tế, chính tri, xã hội, văn hóa, v.) chưa được lam rõ trong khái niệm này. Ngoài ra, định nghĩa bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tô chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
(Nguyễn Minh Tuệ, 2014) Du lịch được hiểu theo Luật Du lịch Việt Nam là hoạt động có liên quan đến chuyền đi của con người tới ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ đưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục dich hợp pháp khác.