Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về du lịch Du lịch là một hoạt động xã hội và văn hóa đã được con người thực hiện trong suốt hàng nghìn năm qua. Được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: Đi bộ, đi xe đạp, đi tàu hỏa hay máy bay. Hoạt động này có thế kéo dài từ một ngày đến một tuần hoặc có thể là cả tháng, đây là một hoạt động giải trí và tận hưởng cuộc song của con người, mang lại những cảm giác thư giãn, vui vẻ.
Bên cạnh đó, du lịch còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho những quốc gia tập trung đấy mạnh việc phát trien dịch vụ du lịch, vì thế mà cũng có nhiều cá nhân, to chức đã đưa ra định nghĩa du lịch như sau: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới: “Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của cá nhân đi, đen và lưu lại ngoài nơi ở thường xuyên trong thời gian không dài (hơn một năm) với những mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền hàng ngày”. [44,6] Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organisation - IUOTO), “Du lịch được hiếu là hoạt động du hành đến nơi khác với địa điếm cư trú cùa mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải đế làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.” Theo Tống cục du lịch định nghĩa: “Du lịch (Tourism) là các hoạt động của các cá nhân đi tới một nơi ngoài môi trường song thường xuyên (nơi sinh hoạt hàng ngày của mình) trong thời gian không quá 1 năm liên tục với mục đích chính của chuyến đi không liên quan tới hoạt động kiếm tiền nơi họ đen ”. Pirogionic (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động cùa dân cư trong thời gian roi liên quan với sự di chuyên và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghi ngơi, chữa bệnh, phát triển thê chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thê thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh te và vãn hóa”.[23,15] Luật Du lịch năm 2017 của nước ta đưa ra khái niệm: ‘Du lịch là các hoạt động có liên quan đen chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong 15 thời gian không quá Oỉ năm ìiên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiêu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.”[\6] Từ các khái niệm trên ta có the hiếu đơn giản Du lịch là hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên cùa mình trong một thời gian ngắn với mục đích làm thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí và không liên quan đến mục đích định cư hay kiếm tiền tại nơi đến du lịch. Cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch 1.
Khái niệm tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là tất cả các thành phần khác nhau cùa cảnh quan thiên nhiên hay tài nguyên du lịch nhân văn có thế tạo ra sức hút đế con người đến nghỉ ngơi, tham quan, du lịch. Tài nguyên du lịch rất phong phú, đa dạng và được sử dụng đe phát triển ngành du lịch. Có một số khái niệm nói về tài nguyên du lịch như: Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tống thế tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trên thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sứ dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điếm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật cho phéPr\22W\ Luật Du lịch năm 2017 của nước ta đã đưa ra khái niệm: “Tài nguyên du lịch là cành quan thiên nhiên, yếu to tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở đế hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điếm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóaT[ 16] Theo Luật du lịch năm 2017 có thể chia làm 2 loại là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa: - Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.
- Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo co, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và 16 các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch. Đặc điểm của tài nguyên du lịch - Tài nguyên du lịch có the là đoi tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế - xã hội. Một số tài nguyên du lịch như địa hình địa chất, nước, sinh vật không chỉ được sử dụng cho ngành du lịch mà còn có ý nghĩa đối với nhiều ngành kinh tế cũng như nhu cầu của đời sống. - Tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử, sự hình thành, tồn tại và biến đổi của tài nguyên du lịch thay đối qua từng giai đoạn lịch sử.
Việc khai thác tài nguyên du lịch phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế xã hội và sự phát triến của khoa học kỳ thuật hiện đại. Trước đây, khi điều kiện kinh tế xã hội và trình độ phát triến khoa học kỹ thuật còn thấp, ta chỉ có thể khai thác được các nguồn tài nguyên du lịch đon giản. Và ngược lại, trong bối cảnh hiện tại ta có khả năng khai thác những nguồn tài nguyên du lịch phức tạp hon. - Tài nguyên du lịch mang tính biến đổi.
Một số tài nguyên có thể khai thác quanh năm, nhưng lại có những tài nguyên được khai thác dựa vào tính màu vụ. Tuy nhiên tài nguyên du lịch không ton tại vinh cửu. Neu không được khai thác và sử dụng tiết kiệm theo hướng ben vững kết hợp với bảo vệ và tôn tạo hợp lý, tài nguyên du lịch sẽ bị suy thoái, cạn kiệt cả về so lượng và chất lượng - Đa phần các tài nguyên du lịch được khai thác để phục vụ du lịch là các tài nguyên sằn có trong tự nhiên hoặc do tạo hóa sinh ra. Do đó việc khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc vào nhiều yếu to khác nhau.
Như: Khả năng nghiên cứu, phát hiện và đánh giá các nguồn tài nguyên tiềm ấn chưa được khai thác, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, các quốc gia, trình độ phát triển khoa học, công nghệ. - Tài nguyên du lịch mang tính đa dạng, phong phú tạo nên sự độc đáo của sản phẩm du lịch giúp thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan - Tài nguyên du lịch có tính sở hữu chung. Bất cứ công dân nào cũng có quyền thường thức các giá trị của tài nguyên du lịch. Cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch.
17 - Việc khai thác tài nguyên du lịch gắn liền với vị trí địa lý. Sự khác biệt giữa kinh doanh du lịch và các lĩnh vực kinh tế khác là sản phẩm du lịch được bán tại chồ do phần lớn tài nguyên du lịch (như cảnh quan thiên nhiên, các làng nghề truyền thống, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử.) đều gắn bó mật thiết với vị trí địa lý, không không thế di dời được. Cơ sở lý luận về di tích Di tích là những dấu tích còn lại của một văn hóa, một sự kiện lịch sử của một thời kì nào đó trong quá khứ. Đó có thể là những công trình kiến trúc, bảo tàng, các lăng tấm của những vị vua thời xưa, những khu di sản thiên nhiên,.
được bảo tồn và bảo vệ qua nhiều thế hệ. Nó thể hiện quá trình phát triển của con người và những giá trị văn hóa, tinh thần của cả dân tộc, đất nước. Qua đó, nhà nước ta đã có khái niệm về di tích như sau: Theo luật Di sản văn hóa năm 2013 của nước ta quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điếm và các di vật, cố vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa /7ợc”.[15] Dì tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu củ quốc gia hoặc của địa phương Công trình xây dựng, địa điếm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc cùa địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo co có giá trị tiêu biếu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thế kiến trúc, tong the kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến t rúc, nghệ thuật. Dì tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hường to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; 18 Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo co quan trọng của Việt Nam và thế giới; Cảnh quan thiên nhiên noi tiếng hoặc địa điếm kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc, nghệ thuật mang giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực.
Đây là những điểm đến nổi tiếng về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù của Việt Nam và thế giới. Cơ sở lý luận về di sản văn hóa Di sản văn hóa là những giá trị văn hóa đã được công nhận là có giá trị quốc tế.