CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG. Những vấn đề lý luận về phát triển và phát triển du lịch bền vững 1. Một số khái niệm 1. Phát triển: Phát triển được định nghĩa khái quát trong từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn…”.Theo quan điểm triết học, phát triển là quá trình vận động theo chiều hướng đi lên từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; trong khái niệm này, phát triển là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và xu hướng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Phát triển và tăng trưởng đều nói đến sự chuyển biến của sự vật theo hướng đi lên, nhưng khác nhau về bản chất; tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về lượng, còn phát triển bao gồm cả gia tăng về lượng và về chất của sự vật; do đó, khái niệm phát triển rộng hơn có ý nghĩa lớn hơn. Phát triển kinh tế được hiểu là một quá trình tăng tiến theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, môi trường, khoa học kỹ thuật.Phát triển kinh tế là một quá trình thay đổi liên tục làm gia tăng chất lượng cuộc sống con người cả về vật chất, văn hóa và tinh thần. Để phán ánh đúng thực chất và khách quan về phát triển, ngoài các chỉ tiêu phản ánh về kinh tế như: Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần phải bổ sung các chỉ tiêu phản ánh về tiến bộ và công bằng xã hội và các chỉ tiêu phản ánh về môi trường; người ta còn bổ sung thêm các yếu tố phản ánh về việc áp dụng khoa học vào gia tăng sản lượng kinh tế, những vấn đề dẫn đến công nghiệp hóa, đô thị hóa và tăng trưởng bùng nổ dân số [1.Như vậy khái niệm: "Phát triển là một quá trình vận động đi lên. Trong khái niệm này, phát triển phải là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và sự thay đổi đó theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Do vậy, khái niệm phát triển kinh tế cũng được lý giải như một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế như: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhấtđịnh" [1. 47]; mục tiêu của sự phát triển là không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống tinh thần của con người. Phát triển bền vững Tại hội thảo của Liên hiệp quốc về Con người và Môi trường (UNHE, 1972) tổ chức tại Thụy Điển, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường lần đầu tiên đã đề cập đến:" Nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất, bao gồm không khí, nước, đất, thực vật, động vật và đặc biệt các mẫu hệ sinh thái tự nhiên phải được bảo vệ vì lợi ích của thế hệ hôm nay và tương lai, thông qua hoạch định và quản lý thận trọng" [1,45]. Thuật ngữ phát triển bền vững (Sustainable Development) lần đầu tiên được sử dụng trong bản "Chiến lược bảo tồn thế giới" (World Conservation Strategy) do Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1980) đề xuất; mục tiêu tổng thể của chiến lược là "đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật" [12, 18]; thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.
Trong báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" (Our Common Future), Ủy ban quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987) lần đầu tiên đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về phát triển bền vững là "sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ" [12,18]; Định nghĩa của WCED được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Báo cáo của WCED đã khẳng định mối liên quan chặt chẽ giữa sự phát triển và môi trường; "Môi trường là nơi chúng ta sinh sống, phát triển là những gì chúng ta làm để cố gắng cải thiện tất cả mọi thứ ở bên trong nơi chúng ta đang sống, và do vậy, hai vế này không thể tách rời nhau" (Gro Harlem Brundtland - Chủ tịch WCED) [12,18].Báo cáo này cũng đã nhấn mạnh 8 nội dung của phát triển bền vững là: (1) Quan niệm lại khái niệm về tăng trưởng; (2) Thay đổi chất lượng của sự tăng trưởng; (3) Đáp ứng các nhu cầu cốt yếu về việc làm, năng lượng, nước sạch và vệ sinh; (4) Sự bền vững về dân số; (5) Bảo tồn và phát triển tài nguyên; (6) Định hướng công nghệ và quản lý rủi ro; (7) Tích hợp công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế (8) Định hướng quan hệ quốc tế trong phát triển kinh tế. 6 Luan van Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị thượng đỉnh thế giới RiodeJaneiro, Brazil (1992) và bổ sung hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg, Nam Phi (2002): "Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển đó là: Phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" [12, 18]. Theo Stephen Viederman: "Bền vững không phải là một vấn đề kỹ thuật cần giải quyết mà là một tầm nhìn vào tương lai, bảo đảm cho chúng ta có một lộ trình và giúp tập trung chú ý vào một tập hợp có giá trị và những nguyên tắc mang tính lý luận về đạo đức để hướng dẫn hành động của chúng ta" [12,19].
Tổng hợpnhữngquan điểmcóthể hiểurằng: "Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thoả mãn được nhu cầu xã hội hiện tại nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai". Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt nam, Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam (2004) đã đưa ra: "Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường" [4, 21]. Phân hệ kinh tế Phát triển bền vững Phân hệ Phân hệ xã môi hội trường Hình 1. Mô hình phát triển bền vững của ngân hàng thế giới 7 Luan van 1.
Các tiêu chí của phát triển bền vững Cũng như tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững có thước đo riêng và rất đặc trưng; tuy nhiên hệ thống thước đo này rất phức tạp và khó xác định vì chúng phải đánh giá trên cả 3 phương diện kinh tế - xã hội - môi trường. Thứ nhấ t, phát triể n bề n vữ ng về kinh tế : Là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng; phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên đó cho các hoạt động kinh tế được chia sẽ một cách bình đẳng; Khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản: Một là, giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết kiệm và thay đổi lối sống; Hai là, thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường; Ba là, bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục; Bốn là, xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; Năm là, công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lượng đã sử dụng)[12,22]. Nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau: (1) Có tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và GDP đầu người đạt mức cao. Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao.
Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem là phát triển bền vững về kinh tế. (2) Cơ cấu GDP cũng là tiêu chí đánh giá phát triển bền vững về kinh tế; chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững. (3) Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá. Thứ hai, phát triể n bề n vữ ng về xã hộ i: Được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa.
Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh 8 Luan van lệch giàunghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn. Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh. Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.