Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành du lịch trên phạm vi toàn cầu duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia. Trong xu thế đó, du lịch sinh thái (DLST) nổi lên như một phương thức tiếp cận nhạy cảm và có trách nhiệm với môi trường, thu hút sự quan tâm của xã hội cũng như các nhà nghiên cứu khoa học. Tại Việt Nam, DLST vẫn là một lĩnh vực tương đối mới mẻ cả về nhận thức lý luận, công tác tổ chức quản lý lẫn hoạt động khai thác thực tế. Công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu chuyên sâu và hoạt động đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ quản lý, hướng dẫn viên du lịch sinh thái còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững.
Thành phố Hải Phòng là một trung tâm kinh tế lớn với nhiều tiềm năng và tài nguyên du lịch phong phú, thuận lợi cho việc hình thành các sản phẩm du lịch đặc thù vùng duyên hải. Trong quần thể du lịch tổng hợp quốc gia Hạ Long - Cát Bà - Đồ Sơn, Vườn quốc gia Cát Bà giữ vị trí trung tâm về cảnh quan và sinh thái. Những năm gần đây, lượng du khách đến tham quan Vườn quốc gia Cát Bà tăng trưởng nhanh chóng. Sự gia tăng mật độ du khách đã làm nảy sinh các bất cập và mâu thuẫn giữa hoạt động khai thác du lịch, công tác bảo tồn đa dạng sinh học và đời sống của cộng đồng dân cư bản địa. Nhằm tìm kiếm giải pháp điều hòa các mối quan hệ này, đề tài "Phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà" đã được tác giả Vũ Huyền Trang (lớp VH902) lựa chọn thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Đánh giá khả năng và hiện trạng phát triển du lịch của Vườn quốc gia Cát Bà.
- Định hướng phát triển du lịch sinh thái nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn giá trị truyền thống và hỗ trợ nâng cao đời sống cộng đồng địa phương.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 4 nội dung chính:
- Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và mối quan hệ giữa du lịch sinh thái với các vườn quốc gia.
- Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà.
- Tìm hiểu hiện trạng hoạt động du lịch ở Cát Bà và đánh giá hiện trạng này dưới góc độ các nguyên tắc của du lịch sinh thái.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm khai thác hợp lý tiềm năng du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Phạm vi không gian/lãnh thổ: Tập trung trong ranh giới địa lý của Vườn quốc gia Cát Bà (huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng).
- Phạm vi nội dung: Đánh giá các tiềm năng tự nhiên, nhân văn và hiện trạng hoạt động du lịch dựa trên các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái hướng tới phát triển bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa chuẩn hóa và mô hình lý thuyết quốc tế kết hợp văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam:
- Khái niệm du lịch: Trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO, 1993) và định nghĩa chính thức trong Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999).
- Khái niệm và cấu trúc du lịch sinh thái: Sử dụng định nghĩa của Hector Ceballos-Lascurain (1987), khung khái niệm thống nhất tại Hội thảo "Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST" tại Việt Nam (1999) và mô hình cấu trúc các thành phần đan cắt của du lịch sinh thái.
- Đặc trưng và nguyên tắc du lịch sinh thái: Vận dụng hệ thống 5 đặc trưng phân biệt của Dowling (1997), bao gồm: địa bàn phong phú về tự nhiên và văn hóa bản địa; đảm bảo tính bền vững sinh thái và hỗ trợ bảo tồn; giáo dục môi trường; khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia/hưởng lợi; cung cấp kinh nghiệm du lịch chất lượng cao cho du khách.
- Mối quan hệ giữa du lịch và bảo tồn: Phân tích 3 trạng thái quan hệ (cùng tồn tại, cộng sinh, mâu thuẫn) tương ứng với 3 giai đoạn phát triển du lịch.
- Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng: Trích dẫn các luận điểm của Boo (1990), Place (1991) và Cochrane (1996) về cân bằng lợi ích kinh tế cộng đồng và bảo tồn tài nguyên.
- Mô hình phân vùng chức năng: Ứng dụng mô hình khoanh vùng sử dụng lãnh thổ du lịch cho vườn quốc gia của Gunn (1994) với 5 vùng chức năng (vùng bảo vệ nghiêm ngặt tài nguyên cơ bản; vùng tự nhiên hoang dã sử dụng mức độ thấp; vùng hoạt động giải trí mở rộng; vùng dành cho du khách dã ngoại/bãi đỗ xe; vùng dịch vụ du lịch của cộng đồng).
- Khung lý thuyết sức chứa du lịch (Carrying Capacity): Vận dụng lý thuyết của WTO và Ceballos-Lascurain (1996) về sức chứa sinh thái, vật lý, tâm lý, kinh tế; cùng hệ thống công thức tính toán:
- Sức chứa tự nhiên: $PCC = \frac{S}{a} \times Rf$ (trong đó $S$ là diện tích dành cho du lịch, $a$ là tiêu chuẩn không gian cho một đơn vị sử dụng, $Rf$ là hệ số quay vòng thời gian).
- Sức chứa thực tế: $RCC = PCC - Cfi$ ($Cfi$ là các biến điều chỉnh theo điều kiện tự nhiên - xã hội).
- Sức chứa tối ưu: $ECC = RCC \times P$ ($P$ là hệ số khai thác tối ưu về quản lý và phục vụ).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin.
- Phương pháp thực địa.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp thống kê số liệu.
Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm các tài liệu khảo sát, quy hoạch và báo cáo của Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà, dữ liệu khí tượng thủy văn khu vực Đông Bắc, các văn bản pháp lý thành lập khu bảo tồn (Quyết định số 79/CP, Nghị định 18/HĐBT), tư liệu khảo cổ học tại Cát Hải và kết quả khảo sát tuyến điểm thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch sinh thái
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các khái niệm nền tảng về du lịch và du lịch sinh thái. Tác giả khẳng định bản chất cốt lõi của DLST là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa bản địa, được quản lý theo hướng bền vững, có tính giáo dục môi trường và đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn với sự tham gia của người dân địa phương.
Khóa luận phân tích chi tiết mối quan hệ hai chiều giữa du lịch và vườn quốc gia. Về mặt tích cực, du lịch tạo nguồn thu tài chính hỗ trợ công tác bảo tồn, nâng cao nhận thức của du khách, tạo việc làm và giảm áp lực khai thác tài nguyên từ người dân vùng đệm. Về mặt tiêu cực, nếu không được kiểm soát, du lịch gây tổn hại cấu trúc địa chất hang động, xói mòn thổ nhưỡng, ô nhiễm nguồn nước, xâm hại thảm thực vật do giẫm đạp và làm xáo trộn sinh cảnh sống của động vật hoang dã. Đối với cộng đồng bản địa, DLST vừa mang lại cơ hội nâng cao đời sống và bảo tồn văn hóa, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm đảo lộn cấu trúc xã hội nếu phát triển quá tải.
Để giải quyết các xung đột này, chương 1 đặt ra 4 yêu cầu tổ chức DLST trong vườn quốc gia:
- Phát triển dựa trên các hệ sinh thái điển hình và nguyên sơ.
- Đảm bảo tính thuyết minh và giáo dục môi trường thông qua hệ thống thông tin, ấn phẩm và đội ngũ hướng dẫn viên am hiểu nghiệp vụ.
- Sử dụng không gian hợp lý thông qua mô hình phân 5 vùng chức năng của Gunn.
- Quản lý lưu lượng khách dựa trên các ngưỡng sức chứa du lịch ($PCC$, $RCC$, $ECC$).
Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà
Chương 2 trình bày bức tranh chi tiết về điều kiện tự nhiên, tài nguyên sinh thái, nhân văn và hạ tầng của Vườn quốc gia Cát Bà:
- Vị trí và lịch sử thành lập: Quần đảo Cát Bà gồm 366 hòn đảo lớn nhỏ trên vịnh Lan Hạ, trong đó đảo Cát Bà có diện tích khoảng 200 $\text{km}^2$. Vườn quốc gia Cát Bà được thành lập theo Quyết định số 79/CP ngày 31/3/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tọa lạc tại tọa độ $20^\circ 43' 50'' - 20^\circ 51' 29'' \text{B}$ và $106^\circ 58' 20'' - 107^\circ 10' 05'' \text{Đ}$. Vườn nằm trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận ngày 01/4/2004. Tổng diện tích quy hoạch là 15.200 ha (9.800 ha đất liền và 5.400 ha mặt biển), với 4.500 ha rừng nguyên sinh.
- Địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu và thủy văn: Địa hình chủ yếu là núi đá vôi có độ cao trung bình 150m (đỉnh cao nhất là Cao Vọng 322m), xen kẽ các thung lũng (Khe Sâu, đồng Tép) và hệ thống hang động (động Trung Trang, động Đá Hoa, hang Quân Y). Đất đai gồm 5 nhóm chính. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa hải dương với nhiệt độ trung bình năm $25 - 28^\circ\text{C}$, tổng nhiệt $8.000 - 8.500^\circ\text{C}$/năm, độ ẩm trung bình 85%, lượng mưa năm khoảng 1.800 mm (mùa mưa chiếm 80-90%). Thủy văn gồm hệ thống suối ngầm (Thuồng Luồng, Treo Cơm, Trung Trang, Việt Hải) và hồ nước ngọt tự nhiên trên núi Ao Ếch (rộng khoảng 3 ha, mực nước sâu trung bình 50 cm).
- Tài nguyên sinh vật:
- Thực vật: Thống kê được 745 loài thực vật bậc cao thuộc 495 chi và 149 họ (145 loài cây gỗ lớn, 120 loài cây gỗ nhỏ, 237 loài thân thảo đứng...). Rừng thung lũng có cấu trúc 3 tầng tán. Nhiều khu rừng đặc thù quý hiếm gồm: khu rừng cây Kim giao thuần loại tại Trung Trang (diện tích khoảng 20-32 ha, mật độ 1.500 - 5.000 cây/ha, xếp bậc V Sách đỏ Việt Nam); rừng ngập nước trên núi Ao Ếch đơn ưu loài cây Và Nước họ Liễu (mật độ 2.500 cây/ha, cao trung bình 12m); rừng ngập mặn phía Tây Bắc đảo tại Phù Long (diện tích khoảng 1.000 ha). Ngoài ra có 357 loài cây thuốc.
- Động vật: Ghi nhận 282 loài động vật trên cạn (20 loài thú, 69 loài chim, 15 loài bò sát và lưỡng cư, 11 loài ếch nhái) và khoảng 160 loài chim. Động vật quý hiếm gồm Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus) - loài linh trưởng đặc hữu duy nhất trên thế giới chỉ có tại Cát Bà, được xếp mức E (Sách đỏ Việt Nam 1992), EN (Sách đỏ thế giới 1996) và Nhóm I-B Nghị định 18/HĐBT. Số lượng cá thể Voọc đầu trắng suy giảm từ 131 cá thể thuộc 14 đàn (năm 1994) xuống còn khoảng 100 cá thể (tháng 10/1999).
- Đặc điểm kinh tế - xã hội và nhân văn: Trong ranh giới Vườn có 2 cụm dân cư: xã Việt Hải (82 hộ, 285 nhân khẩu, 80% làm nông - lâm nghiệp) và khu trung tâm Ban quản lý (38 hộ, 170 nhân khẩu). Giá trị nhân văn gắn liền với di chỉ khảo cổ Cái Bèo (trên 6.000 năm), 15/17 điểm khai quật có dấu tích văn hóa Hạ Long 5.000 năm (khu Cát Đồn tìm thấy hơn 400 hiện vật đá, 15.000 mảnh gốm) và lễ hội truyền thống ngày 01/4 (kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá năm 1959).
- Cơ sở hạ tầng và tuyến du lịch: Hạ tầng có tuyến đường nhựa 15 km từ thị trấn Cát Bà đến Vườn, dự án cấp điện lưới 13,6 tỷ đồng cho xã Việt Hải (trạm biến áp 1.000 KVA và 250 KVA, 5,9 km cáp ngầm, hướng tới mốc 02/9/2009). Vườn thiết lập 7 tuyến tham quan chính:
- Tuyến Trung tâm vườn - Rừng Kim giao (1 km, 30 phút).
- Tuyến Trung tâm vườn - Đỉnh Ngự Lâm (1,5 km, 1 giờ, đỉnh cao 210m).
- Tuyến Trung tâm vườn - Động Trung Trang (3,5 km, 2 giờ).
- Tuyến Trung tâm vườn - Ao Ếch (2 giờ 30 phút).
- Tuyến Trung tâm vườn - Ao Ếch - Việt Hải - Vịnh Lan Hạ (qua Ao Ếch đến làng Việt Hải 7,5 km, thêm 3 km ra bến tàu).
- Tuyến Trung tâm vườn - Mây Bầu - Khe Sâu - Hang Quân Y (3,5 km, 3 giờ).
- Tuyến du lịch sinh thái biển xuất phát từ Bến Bèo/Cảng Cá tham quan Vịnh Lan Hạ, Bãi Vạn Bội, Bãi Cát Dứa (3 - 6 giờ).
Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng lượng khách và các chỉ số hoạt động du lịch:
| Tiêu chí phân tích |
Đặc điểm và số liệu ghi nhận trong khóa luận |
| Tính thời vụ |
Tập trung cao điểm từ tháng 3 đến tháng 8 (đông nhất từ tháng 4 đến tháng 8 do thời tiết mùa hè mát mẻ, phù hợp tắm biển và dã ngoại). |
| Thời gian lưu trú bình quân |
Trung bình đạt 2 ngày 1 đêm. |
| Cơ cấu nguồn khách nội địa |
Khách miền Bắc chiếm đa số, trong đó Hải Phòng và Quảng Ninh chiếm 62,8%; khách miền Nam chủ yếu từ TP. Hồ Chí Minh (12,59%); khách miền Trung chủ yếu từ Đà Nẵng (6,71%). |
| Cơ cấu nguồn khách quốc tế |
Thị trường khách chủ yếu gồm: Anh (30%), Pháp (13%), Trung Quốc (12%); các quốc tịch khác chiếm tỷ lệ nhỏ. |
| Phân loại đối tượng khách |
- Học sinh, sinh viên: Đi theo đoàn lớn 30 - 50 người (có khi trên 100 người) vào dịp nghỉ lễ, cuối tuần. - Công nhân viên chức: Nhóm 20 - 30 người, nhu cầu nghỉ ngơi giải trí. - Nhà nghiên cứu: Nhóm nhỏ 1 - 5 người, lưu trú linh hoạt quanh năm. - Khách tự do: Nhóm 5 - 10 người di chuyển bằng xe nhỏ/xe máy. - Khách quốc tế chuyên đề: Nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn, lưu trú dài ngày. |
Khóa luận chỉ ra hạn chế thực trạng: Lượng khách năm 2008 sụt giảm so với năm 2007 do công tác quảng bá, cung cấp thông tin còn yếu, trang web của Vườn còn sơ sài, thiếu tính năng cập nhật dự án và chưa triển khai hệ thống đặt phòng, đặt tour trực tuyến.
Các nhóm giải pháp cơ bản được tác giả đề xuất:
- Kéo dài mùa vụ du lịch bằng việc đa dạng hóa sản phẩm (kết hợp du lịch văn hóa, di tích lịch sử, làng nghề Việt Hải và ẩm thực địa phương vào mùa thu - đông).
- Nâng cấp cơ sở thông tin truyền thông, xây dựng trang web tích hợp đặt chỗ trực tuyến, nâng cao chất lượng phòng trưng bày và tài liệu giáo dục môi trường.
- Triển khai phân vùng chức năng theo mô hình Gunn và áp dụng công thức tính sức chứa du lịch nhằm giới hạn lượng khách dưới ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái.
- Hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo người dân bản địa (xã Việt Hải và khu trung tâm) tham gia làm dịch vụ du lịch sinh thái nhằm giảm áp lực khai thác lâm sản trái phép.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp được các dữ liệu thực chứng và mang lại những đóng góp cụ thể:
CƠ CẤU VÀ TIỀM NĂNG VQG CÁT BÀ
- Kết quả dữ liệu chính:
- Xác lập hệ thống dữ liệu sinh học chi tiết: 745 loài thực vật bậc cao (495 chi, 149 họ), 282 loài động vật trên cạn, 160 loài chim; ghi nhận thực trạng loài Voọc đầu trắng đặc hữu suy giảm từ 131 cá thể (1994) xuống còn khoảng 100 cá thể (1999).
- Phản ánh chính xác cơ cấu thị trường khách: Khách nội địa Hải Phòng - Quảng Ninh chiếm 62,8%, TP. Hồ Chí Minh chiếm 12,59%; khách quốc tế từ Anh chiếm 30%, Pháp chiếm 13%, Trung Quốc chiếm 12%; thời gian lưu trú bình quân 2 ngày 1 đêm.
- Giải pháp đề xuất: Đưa ra định hướng quy hoạch phân vùng 5 cấp độ, áp dụng bộ công thức sức chứa ($PCC$, $RCC$, $ECC$) vào quản lý tuyến điểm, và giải pháp chuyển đổi sinh kế cho 82 hộ dân xã Việt Hải cùng 38 hộ dân khu trung tâm.
- Đóng góp học thuật và thực tiễn tự nêu:
- Về mặt lý luận: Tổng quan hóa hệ thống cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và ứng dụng cụ thể vào một địa bàn đặc thù là vườn quốc gia hải đảo.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp nguồn tài liệu tin cậy cho công tác quy hoạch, quản lý và phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Vườn quốc gia Cát Bà.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu trong ranh giới hành chính của Vườn quốc gia Cát Bà, chưa mở rộng phân tích sâu mối liên kết vùng với toàn bộ quần thể Vịnh Hạ Long và Đồ Sơn. Việc tính toán sức chứa du lịch mới dừng lại ở việc giới thiệu khung lý thuyết và công thức toán học, chưa có điều kiện thu thập đủ biến số thực nghiệm ($Cfi$, $P$) để lượng hóa chỉ số sức chứa chính xác cho từng tuyến đường mòn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu thực nghiệm để đo lường các biến số môi trường nhằm tính toán cụ thể chỉ số sức chứa tự nhiên ($PCC$), sức chứa thực tế ($RCC$) và sức chứa tối ưu ($ECC$) cho từng điểm tham quan (như hang Trung Trang, đỉnh Ngự Lâm, hồ Ao Ếch); xây dựng mô hình chia sẻ lợi ích kinh tế chi tiết cho cộng đồng địa phương xã Việt Hải trong chuỗi cung ứng dịch vụ DLST.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên ngành Du lịch, Địa lý Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành: Tham khảo phương pháp xây dựng đề cương nghiên cứu hiện trạng du lịch tại một điểm đến tự nhiên, phương pháp phân tích đặc trưng nguồn khách và tính thời vụ.
- Sinh viên ngành Quản lý Tài nguyên Môi trường, Lâm nghiệp, Bảo tồn Đa dạng Sinh học: Khai thác hệ thống số liệu kiểm kê thực vật (745 loài), động vật (282 loài), sinh thái học Voọc đầu trắng và hiện trạng thảm thực vật rừng trên núi đá vôi Cát Bà.
- Cán bộ quản lý khu bảo tồn, vườn quốc gia và các nhà quy hoạch du lịch: Tham khảo khung lý thuyết phân vùng chức năng của Gunn và nguyên tắc xác định sức chứa du lịch phục vụ việc xây dựng phương án quản trị lượng khách tham quan.
Câu hỏi thường gặp
1. Vườn quốc gia Cát Bà được thành lập theo văn bản pháp lý nào và có quy mô diện tích bao nhiêu?
Vườn quốc gia Cát Bà được thành lập chính thức theo Quyết định số 79/CP ngày 31/3/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tổng diện tích quy hoạch của Vườn là 15.200 ha, bao gồm 9.800 ha diện tích đất liền và 5.400 ha diện tích mặt biển, trong đó có khoảng 4.500 ha là rừng nguyên sinh.
2. Loài động vật đặc hữu nguy cấp tiêu biểu nhất tại Vườn quốc gia Cát Bà là loài nào và có hiện trạng số lượng ra sao?
Loài đặc hữu tiêu biểu nhất là Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus), chỉ phân bố duy nhất tại Cát Bà. Loài này được xếp mức E trong Sách đỏ Việt Nam (1992), mức EN trong Sách đỏ thế giới (1996) và thuộc Nhóm I-B Nghị định 18/HĐBT. Theo khóa luận, quần thể Voọc đầu trắng có 131 cá thể (14 đàn) năm 1994, nhưng đến tháng 10/1999 khảo sát quốc tế thông báo chỉ còn khoảng 100 cá thể.
3. Công thức tính sức chứa tự nhiên ($PCC$) được khóa luận trình bày như thế nào?
Khóa luận đưa ra công thức tính sức chứa tự nhiên: $PCC = \frac{S}{a} \times Rf$. Trong đó: $S$ là diện tích dành cho du lịch; $a$ là tiêu chuẩn không gian cần thiết cho một đơn vị sử dụng (khách, đoàn khách hoặc phương tiện); $Rf$ là hệ số quay vòng thời gian cho một chuyến tham quan trong ngày.
4. Cơ cấu thị trường khách du lịch đến Vườn quốc gia Cát Bà có đặc điểm gì nổi bật?
Về khách nội địa, thị trường miền Bắc chiếm ưu thế tuyệt đối, riêng khách từ Hải Phòng và Quảng Ninh chiếm 62,8%; khách miền Nam chủ yếu từ TP. Hồ Chí Minh (12,59%); khách miền Trung chủ yếu từ Đà Nẵng (6,71%). Về khách quốc tế, tỷ lệ khách lớn nhất đến từ Anh (30%), Pháp (13%) và Trung Quốc (12%). Du khách lưu trú trung bình 2 ngày 1 đêm và tập trung cao điểm từ tháng 4 đến tháng 8.
5. Sinh cảnh hồ Ao Ếch có đặc điểm sinh thái độc đáo nào phục vụ tuyến du lịch khám phá?
Ao Ếch là đầm nước ngọt duy nhất nằm trên núi cao trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn, diện tích khoảng 3 ha, mực nước trung bình 50 cm. Đây là sinh cảnh rừng ngập nước nội địa đơn ưu với một loài thân gỗ duy nhất sinh sống là cây Và Nước (họ Liễu), mật độ 2.500 cây/ha, chiều cao trung bình 12m và đường kính 13 cm với hệ thống rễ thở đặc trưng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Huyền Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và vận dụng đánh giá toàn diện tiềm năng tài nguyên tự nhiên, nhân văn tại Vườn quốc gia Cát Bà. Công trình phản ánh thực trạng phát triển du lịch giai đoạn nghiên cứu, chỉ rõ tính mùa vụ và cơ cấu nguồn khách, đồng thời nhận diện nguyên nhân sụt giảm lượng du khách năm 2008 do hạn chế về công tác truyền thông. Các giải pháp đề xuất về phân vùng chức năng, kiểm soát sức chứa và gắn kết sinh kế cộng đồng dân cư xã Việt Hải mang giá trị thực tiễn đối với định hướng phát triển bền vững tại Vườn quốc gia Cát Bà.