Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch sinh thái. Chương 2: Tiềm năng phát triển DLST tại VQG Cát Bà. Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà Sinh viên: Vũ Huyền Trang –VH902 3 Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1. Quan niệm về du lịch sinh thái 1.1 Khái niệm du lịch Tổ chức du lịch thế giới (WTO) đưa ra khái niệm về du lịch năm 1993 như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ những cuộc hành trình và lưu trú của con người ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa bình”.
[1] Tại Việt Nam, khái niệm này được định nghĩa chính thức trong Pháp lệnh du lịch (1999): “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi ở cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. [7] Như vậy, du lịch là ngành liên quan đến nhiều yếu tố như khách du lịch, phương tiện giao thông, địa bàn đón khách. Do đó, tác động của hoạt động du lịch đến lãnh thổ đón khách là rộng ở mọi khía cạnh và tùy thuộc vào mọi loại du lịch. Tóm lại, du lịch là hoạt động không mang tính thường xuyên của con người, ở ngoài nơi công tác và cư trú nhằm mục đích tham quan, vui chơi giải trí và phục hồi sức khỏe.2 Khái niệm du lịch sinh thái Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch sinh thái.
Tuy cách diễn đạt khác nhau, song nhìn chung đều có những điểm giống nhau trong việc làm nổi bật bản chất của loại hình du lịch này “Chỉ có du lịch dựa vào tự nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường mới được mô tả là DLST. [1] Theo định nghĩa của Hector Ceballos-Lascurain, 1987 “DLST là du lịch đến với những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu đặc biệt Sinh viên: Vũ Huyền Trang –VH902 4 Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà như nghiên cứu, trân trọng, thưởng ngoạn phong cảnh và giới thực, động vật hoang dã, cũng như biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này”. [2] Trong hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST” tại Việt Nam, năm 1999, đã đi đến thống nhất về quan niệm về DLST như sau: “DLST là một loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa bản địa có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [1] Mặt khác, DLST được nhìn nhận như là loại hình du lịch lựa chọn những mặt tích cực của một số loại hình du lịch và có thể biểu diễn bằng sơ đồ đan cắt của các thành phần như sau: Hình 1-1: Cấu trúc du lịch sinh thái Nguồn[ 11] Như vậy, DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, bao hàm các yếu tố bền vững như mang tính giáo dục môi trường, hỗ trợ bảo tồn và cộng đồng người dân địa phương. Sinh viên: Vũ Huyền Trang –VH902 5 Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà 1.3 Đặc trưng của du lịch sinh thái Theo Dowling, sự khác biệt giữa DLST với các loại hình du lịch khác ở 5 đặc trưng sau: [12] DLST phát triển trên địa bàn phong phú về tự nhiên và văn hóa bản địa Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên và văn hóa bản địa.
Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động. Vì vậy, hoạt động DLST thích hợp với các khu bảo tồn tự nhiên có giá trị. Đảm bảo tính bền vững về sinh thái và hỗ trợ bảo tồn Do DLST phát triển trên môi trường phong phú về tự nhiên nên hình thức, và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý cho tính bền vững của hệ sinh thái và ngành du lịch. Đặc trưng này thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng phương tiện, dịch vụ về tiện nghi thấp hơn yêu cầu về việc đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng.
Các hoạt động trong DLST thường gây tác động ít đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường. Giáo dục môi trường Giáo dục và thuyết minh môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên. Phương tiện sử dụng cho mục đích giáo dục môi trường trên các tuyến tham quan là những hình thức quan trọng làm giàu kinh nghiệm du lịch, nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn. Giáo dục môi trường trong DLST có tác dụng làm thay đổi thái độ của khách, cộng đồng và ngành du lịch đối với giá trị bảo tồn, góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của khu tự nhiên.
Không những thế, GDMT trong DLST còn được coi là công cụ quản lý hữu hiệu cho các khu tự nhiên. Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch Sinh viên: Vũ Huyền Trang –VH902 6 Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương trên cơ sở cung cấp về kiến thức, kinh nghiệm thực tế để người dân có khả năng tham gia vào việc quản lý, vận hành dịch vụ DLST. Đây cũng là cách để người dân trở thành những người hỗ trợ bảo tồn tích cực. Cung cấp kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách Nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm du lịch cho du khách là sự tồn tại của ngành DLST.
Vì vậy, các dịch vụ du lịch trong DLST tập trung vào đáp ứng nhu cầu nhận thức và kinh nghiệm du lịch hơn là dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi.4 Nguyên tắc của du lịch sinh thái DLST phát triển trên nguyên tắc hướng tới phát triển bền vững. Đây là nguyên tắc không chỉ sử dụng cho các nhà quản lý mà còn cho cả đội ngũ nhân viên hoạt động trong DLST. Tạo lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng địa phương, những người được làm chủ trong sự phát triển và trong hoạch định. Các chiến dịch thị trường cần tôn trọng môi trường, du lịch không nên làm tổn hại đến nền văn hóa và xã hội địa phương.
Có khả năng hấp dẫn số lượng khách du lịch và thường xuyên đáp ứng cho du khách những kinh nghiệm du lịch lý thú. Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực đến thăm, đảm bảo tính giáo dục cao. Đối chiếu với nguyên tắc của du lịch bền vững, các nguyên tắc của DLST cũng nhằm vào các mục tiêu hướng tới du lịch bền vững. Để đạt được Sinh viên: Vũ Huyền Trang –VH902 7 Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà mục tiêu này, việc tìm hiểu, đánh giá mối quan hệ của du lịch trong VQG cũng như lợi ích và những nguy cơ nảy sinh tiêu cực đến môi trường và cộng đồng địa phương trong các khu vực này là hết sức cần thiết.
Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái với Vƣờn quốc gia 1. Khái niệm về Vườn quốc gia Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về VQG của các nhà nghiên cứu và quản lý. Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới đã đưa ra định nghĩa về VQG như sau [4]: Một VQG là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà: Ở đó có một hay vài hệ sinh thái không bị thay đổi lớn do sự khai thác hoặc chiếm lĩnh của con người. Các loài thực - động vật, các đặc điểm hình thái, địa mạo và nơi cư trú của các loài, hoặc các cảnh quan thiên nhiên đẹp là mối quan tâm cho nghiên cứu khoa học, cho giáo dục và giải trí.
Ở đó có ban quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ nhanh chóng sự khai thác hoặc chiếm lĩnh các đặc trưng về sinh thái và cảnh quan. Ở đó cho phép khách du lịch đến thăm, dưới những điều kiện đặc biệt, cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, giải trí và lòng ngưỡng mộ. Việc thiết lập VQG và các khu bảo tồn nhằm mục tiêu chính trong bảo tồn đa dạng sinh học và tính toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ nghiên cứu khoa học và giáo dục, tạo môi trường du lịch. Như vậy VQG là những địa bàn phù hợp cho DLST.
Khả năng hấp dẫn DLST của VQG VQG và các khu cảnh quan tự nhiên hấp dẫn ngày càng được quan tâm trong sử dụng để đầu tư cho phát triển du lịch vì sự phong phú của tự nhiên, sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan đẹp. Chúng được coi là nền tảng cho sự phát triển DLST và mang lại lợi ích về kinh tế xã hội. Sinh viên: Vũ Huyền Trang –VH902 8 Phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Cát Bà Một trong những yếu tố thúc đẩy việc thành lập VQG chính là tạo cơ hội cho mọi người tham quan, giải trí trong thiên nhiên. Do đó, nhiều quốc gia đã quyết định thành lập VQG và khu bảo tồn.
Yếu tố khiến một VQG hoặc một khu tự nhiên trở thành hấp dẫn khách du lịch bao gồm: Vị trí ở gần sân bay quốc tế hay trung tâm du lịch lớn. Khả năng đến khu vực tham quan thuận lợi. Đặc điểm sinh thái tự nhiên: đa dạng, các loài quý hiếm, điển hình, sự hấp dẫn và khả năng để quan sát chúng (thường xuyên hay mang tính mùa vụ), sự an toàn khi quan sát. Các yếu tố hấp dẫn khác như: bãi biển, sông, hồ nước với các thiết bị giải trí, thác nước hoặc bể bơi, và các loại giải trí khác.
Các yếu tố văn hóa xã hội địa phương hấp dẫn khách. Mức độ đảm bảo các dịch vụ: ăn uống, nơi ở và các dịch vụ khác. Mức độ khác biệt so với các khu du lịch khác. Mức độ gần / xa các điểm du lịch lân cận, sự hấp dẫn của điểm này với du khách, khả năng kết hợp tham quan.