Tổng quan nghiên cứu

Vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới hai lần được UNESCO công nhận vào các năm 1994 và 2000, đồng thời được Tổ chức New7Wonders vinh danh là Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới vào ngày 30 tháng 3 năm 2012. Quần thể di sản sở hữu diện tích 1.553 km2 với 1.969 hòn đảo đá vôi kỳ vĩ. Nằm trong vùng lõi bảo vệ tuyệt đối rộng 434 km2 với 775 hòn đảo, một quần thể cư dân thủy cư lâu đời gồm 7 làng chài với 703 nhà bè, 648 hộ gia đình và 2.574 nhân khẩu đang sinh sống gắn liền với mặt nước biển. Tuy nhiên, hoạt động khai thác hải sản quá mức cùng sự gia tăng nhanh chóng của các luồng khách du lịch đại chúng đã tạo áp lực nặng nề lên hệ sinh thái vịnh. Sinh kế của ngư dân đối mặt với nhiều khó khăn khi nguồn lợi thủy sản suy giảm, tỷ lệ hộ nghèo còn cao và trình độ học vấn còn hạn chế.

Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại 3 làng chài tiêu biểu là Ba Hang, Cửa Vạn và Vông Viêng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2012, với chuỗi số liệu theo dõi từ năm 2008 đến 2012. Mục tiêu trọng tâm là xác lập cơ sở khoa học, đánh giá thực trạng năng lực tham gia của ngư dân và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch bền vững. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc giảm tải áp lực môi trường cho vùng lõi di sản, chuyển đổi sinh kế cho hàng ngàn cư dân thủy cư và gia tăng tỷ lệ hưởng lợi trực tiếp từ chuỗi giá trị du lịch địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết du lịch sinh thái do Hector Ceballos-Lascurain khởi xướng năm 1987 và định nghĩa của Megan Epler Wood năm 1991, nhấn mạnh vào việc bảo tồn tự nhiên, tôn trọng văn hóa bản địa và tạo nguồn tài chính cho cộng đồng. Bên cạnh đó, tác giả tích hợp lý thuyết phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas năm 2009 cùng quan điểm của Tổ chức Du lịch Thế giới năm 2004, khẳng định cộng đồng địa phương phải là chủ thể trực tiếp sở hữu, quản lý và hưởng lợi kinh tế.

Khung phân tích vận dụng mô hình 7 cấp độ tham gia của cộng đồng, trải dài từ mức độ thụ động, đưa tin, tham vấn, khuyến khích, chức năng, tham gia tương tác đến cấp độ tự vận động độc lập. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: du lịch sinh thái, tính cộng đồng thể, địa vực cư trú thủy cư, năng lực cộng đồng và chuỗi giá trị du lịch có trách nhiệm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp đa chiều. Nguồn thứ cấp được thu thập từ báo cáo định kỳ của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long cùng các tài liệu quy hoạch ngành giai đoạn 2008 - 2012. Nguồn sơ cấp được triển khai thông qua đợt khảo sát thực địa chuyên sâu vào tháng 3 năm 2012.

Cỡ mẫu khảo sát xã hội học gồm 150 phiếu điều tra hộ dân tại 3 làng chài Ba Hang, Cửa Vạn, Vông Viêng theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, nhằm phản ánh chính xác cơ cấu lao động và thái độ của cộng đồng. Đồng thời, tác giả tiến hành điều tra 200 khách du lịch gồm 100 khách quốc tế và 100 khách nội địa bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại các bến tàu và điểm tham quan nổi. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích định lượng kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia được lựa chọn nhằm bóc tách khách quan mối tương quan giữa thu nhập, mức độ hài lòng của du khách và sự sẵn sàng tham gia cung ứng dịch vụ du lịch của người dân bản địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng tự nhiên vượt trội của khu vực với 170 loài san hô cứng tạo rạn, 166 loài thực vật phù du, 326 loài động vật tự du và hơn 60 áng karst ngập nước biệt lập, tiêu biểu như áng Vẹm rộng 28,8 ha và hồ Ba Hầm gồm 3 trũng biển thông nhau có diện tích lần lượt là 850 m2, 1.000 m2 và 600 m2. Về mặt nhân văn, 3 làng chài lưu giữ kho tàng văn hóa phi vật thể quý báu như nghệ thuật hát giao duyên 4 chặng gồm hát chào, hát tìm, hát hỏi, hát gặp, cùng các nghi lễ độc đáo như lễ giở mũi thuyền đầu năm và tục dựng cây nêu bằng dứa dại trước mũi thuyền.

Mặc dù lượng khách đến 3 làng chài giai đoạn 2008 - 2012 tăng trưởng bình quân trên 12% mỗi năm, thực trạng tham gia của cộng đồng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Hơn 75% lao động tại các làng chài chưa qua đào tạo kỹ năng nghiệp vụ du lịch. Tỷ lệ hộ dân tham gia trực tiếp vào chuỗi dịch vụ chèo thuyền nan, bán hàng lưu niệm và làm thuyết minh viên chỉ chiếm khoảng 18% tổng số hộ, phần lớn nguồn thu từ vé tham quan và dịch vụ vận chuyển vẫn thuộc về các doanh nghiệp lữ hành từ đất liền.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân hóa lợi ích bắt nguồn từ sự thiếu hụt vốn đầu tư hạ tầng bè nổi, rào cản ngoại ngữ và sự thiếu liên kết giữa các tổ chức cộng đồng với cơ quan quản lý. Khi mô hình hóa dữ liệu trên biểu đồ cơ cấu nguồn thu và bảng so sánh mức độ tham gia, kết quả cho thấy sự chênh lệch rõ rệt: các hộ tham gia chèo thuyền phục vụ khách có mức thu nhập ổn định cao hơn 2,5 lần so với các hộ thuần túy đánh bắt gần bờ. Tuy nhiên, mức độ tham gia của ngư dân hiện chỉ dừng lại ở cấp độ 3 và cấp độ 4 trong thang đo 7 cấp độ, mang tính chất làm thuê theo sự điều tiết của công ty lữ hành.

So với các mô hình du lịch cộng đồng trên cạn như Bản Lác ở Hòa Bình hay Vườn quốc gia Ba Bể ở Bắc Kạn, du lịch sinh thái tại làng chài Vịnh Hạ Long đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn hàng hải và năng lực bảo vệ môi trường khắt khe hơn. Nếu không có cơ chế chia sẻ doanh thu minh bạch, nguy cơ suy thoái rạn san hô và mai một các làn điệu hát giao duyên truyền thống sẽ ngày càng gia tăng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế điều tiết tài chính và phân phối lợi ích. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Ban Quản lý Vịnh Hạ Long cần trích lại tối thiểu 15% đến 20% nguồn thu từ phí tham quan làng chài để tái đầu tư vào quỹ phát triển cộng đồng, hỗ trợ ngư dân đóng mới thuyền chèo đạt chuẩn an toàn du lịch trước năm 2015.

Thứ hai, nâng cao năng lực nguồn nhân lực bản địa. Triển khai các lớp đào tạo nghiệp vụ du lịch, kỹ năng cứu hộ đuối nước, kỹ năng giao tiếp tiếng Anh cơ bản và kiến thức bảo tồn môi trường biển cho 100% lao động trực tiếp tại Ba Hang, Cửa Vạn và Vông Viêng trong giai đoạn 2013 - 2015.

Thứ ba, đa dạng hóa chuỗi sản phẩm trải nghiệm đặc thù. Doanh nghiệp lữ hành phối hợp với Hợp tác xã du lịch vạn chài xây dựng các tour chuyên đề như: Một ngày làm ngư dân, trải nghiệm chèo thuyền kayak khám phá hồ Ba Hầm, tham quan bảo tàng sinh thái nổi Cửa Vạn và thưởng thức diễn xướng hát giao duyên trên bè nổi vào ban đêm.

Thứ tư, thiết lập hệ thống kiểm soát môi trường và an toàn nghiêm ngặt. Ban Quản lý Vịnh Hạ Long cần lắp đặt hệ thống thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt nổi tại 100% các điểm dân cư, cắm phao tiêu phân vùng bảo vệ các rạn san hô nhạy cảm quanh khu vực hòn Bọ Hung và hòn Soi Ván, kiểm soát chặt chẽ sức chứa khách du lịch tại các hang luồn và tùng áng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý Di sản: Cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chính sách bảo tồn tài nguyên, sắp xếp lại không gian sinh tồn và thực hiện các đề án chuyển đổi sinh kế bền vững cho 2.574 cư dân thủy cư trên Vịnh Hạ Long.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Cung cấp dữ liệu thực chứng về nhu cầu, thị hiếu của du khách nội địa và quốc tế, làm căn cứ thiết kế các chương trình du lịch có trách nhiệm gắn liền với văn hóa bản địa.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Du lịch, Môi trường: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tiếp cận mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các vùng biển đảo karst đặc thù.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Cung cấp bức tranh thực tế về mối quan hệ giữa sinh kế cộng đồng và bảo tồn di sản thế giới, phục vụ xây dựng các dự án tài trợ phát triển bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài Vịnh Hạ Long?
Mô hình này giúp chuyển đổi phương thức mưu sinh của hơn 2.574 cư dân từ đánh bắt cạn kiệt sang cung cấp dịch vụ du lịch bền vững. Điều này vừa tạo sinh kế ổn định, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực đến 434 km2 vùng lõi di sản thế giới đã được UNESCO công nhận.

Những tiềm năng văn hóa độc đáo nào có thể khai thác thành sản phẩm du lịch?
Du khách có thể trải nghiệm nghệ thuật hát giao duyên 4 chặng đặc sắc, tìm hiểu phong tục cưới hỏi truyền thống trên thuyền, tham gia các nghi lễ dân gian như lễ giở mũi thuyền, lễ phạt mộc và quan sát kỹ thuật đóng thuyền vỏ gỗ truyền thống của ngư dân vạn chài.

Rào cản lớn nhất hiện nay trong việc nâng cao năng lực cho ngư dân là gì?
Trình độ học vấn thấp với hơn 75% lao động chưa qua đào tạo chuyên môn là rào cản chính. Ngoài ra, ngư dân thiếu vốn đầu tư ban đầu, thiếu kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ và quen với nếp sinh hoạt tự do, chưa thích nghi kịp với môi trường kinh doanh dịch vụ hiện đại.

Hệ sinh thái tự nhiên nào tại các làng chài cần được bảo vệ ưu tiên cao nhất?
Hệ thống rạn san hô với 170 loài san hô cứng tại khu vực hòn Bọ Hung, hòn Soi Ván cùng hệ sinh thái tùng áng tại hồ Ba Hầm và áng Dù là những vùng sinh thái cực kỳ nhạy cảm, có nguy cơ bị tổn hại cao nhất do ô nhiễm rác thải và hoạt động tàu thuyền.

Làm thế nào để đảm bảo lợi ích kinh tế được phân chia công bằng cho người dân?
Cần thành lập các hợp tác xã dịch vụ du lịch do chính cộng đồng quản lý, xây dựng cơ chế trích lại từ 15% đến 20% phí tham quan vào quỹ phúc lợi chung, đồng thời công khai minh bạch lịch trình phân chia lượt chèo đò phục vụ khách giữa các hộ dân tham gia.

Kết luận

  • Luận văn xác lập hệ thống luận cứ khoa học vững chắc về phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại vùng lõi di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
  • Công trình hệ thống hóa toàn diện các giá trị tài nguyên tự nhiên với 170 loài san hô, hơn 60 áng karst cùng kho tàng văn hóa thủy cư đặc sắc của 2.574 ngư dân.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng tham gia du lịch của cộng đồng còn mang tính thụ động, chỉ khoảng 18% hộ dân được hưởng lợi trực tiếp từ chuỗi giá trị.
  • Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao về cơ chế tài chính, đào tạo nhân lực, phát triển sản phẩm đặc thù và kiểm soát môi trường.
  • Định hướng giải pháp tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi sinh kế bền vững, cân bằng giữa mục tiêu bảo tồn di sản và phát triển kinh tế xã hội.

Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng áp dụng khung giải pháp này vào các đề án quy hoạch du lịch cộng đồng giai đoạn tiếp theo để bảo tồn toàn vẹn di sản Vịnh Hạ Long cho các thế hệ tương lai.