Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu Phát triển du lịch qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc khu vực tỉnh Quảng Ninh từ năm 2012 đến 2022 do nghiên cứu sinh Bùi Thu Thủy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Văn Kim và PGS.TS. Dương Văn Huy, bảo vệ năm 2024 tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội (Mã số chuyên ngành: 9310630.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Việt Nam và Trung Quốc có chung đường biên giới trên đất liền dài hơn 1.065 km, trải dài qua 7 tỉnh của Việt Nam (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) tiếp giáp với tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Dọc theo tuyến biên giới này, nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu nhân dân và hợp tác kinh tế, trong đó du lịch qua biên giới là một kênh hợp tác trọng điểm.
Trong hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc triển khai nhiều chiến lược mở cửa biên giới như Sáng kiến "Một vành đai, một con đường", Chiến lược khai thác miền Tây, xây dựng các Khu thí điểm khai phát mở cửa trọng điểm (Đông Hưng - Quảng Tây, Thụy Lệ - Vân Nam, Mãn Châu Lý - Nội Mông Cổ) và chiến lược "Một vòng ba vành đai" của Quảng Tây. Về phía Việt Nam, tỉnh Quảng Ninh giữ vị thế địa bàn trọng điểm với 3 khu kinh tế cửa khẩu (Móng Cái, Bắc Phong Sinh, Hoành Mô - Đồng Văn) kết hợp cùng Khu kinh tế ven biển Vân Đồn. Năm 2019, trong tổng số khoảng 5,8 triệu lượt khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam, Quảng Ninh đã đón gần 700.000 lượt.
Tuy nhiên, phát triển kinh tế biên giới tại Quảng Ninh nói riêng và tuyến biên giới phía Bắc nói chung chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các yếu tố địa chính trị phức tạp, sự biến động trong quan hệ song phương (trong đó có vấn đề Biển Đông), thâm hụt thương mại, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại và đặc biệt là sự đình trệ do đại dịch Covid-19. Mặc dù du lịch qua biên giới giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội vùng biên, các công trình nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào hoạt động thương mại mậu dịch, kinh tế cửa khẩu thuần túy hoặc các vấn đề an ninh - quốc phòng. Các nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu tiếp cận phát triển du lịch qua biên giới dưới góc độ liên ngành và Khu vực học vẫn còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu trường hợp phát triển du lịch qua biên giới Việt - Trung tại khu vực tỉnh Quảng Ninh là vấn đề có giá trị học thuật và ý nghĩa thực tiễn.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc; xác định các yếu tố tác động và thực trạng phát triển du lịch qua biên giới tại tỉnh Quảng Ninh; đánh giá các vấn đề đặt ra và đề xuất phương hướng phát triển cho khu vực này.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển du lịch qua biên giới.
- Phân tích các yếu tố tác động đến phát triển du lịch qua biên giới khu vực tỉnh Quảng Ninh.
- Làm rõ quan điểm, chính sách của chính quyền các cấp đối với phát triển du lịch qua biên giới khu vực tỉnh Quảng Ninh.
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch qua biên giới khu vực tỉnh Quảng Ninh (trọng tâm là thành phố Móng Cái), nhận diện các vấn đề đặt ra và đặc điểm phát triển.
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch qua biên giới tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển du lịch qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc khu vực tỉnh Quảng Ninh từ năm 2012 đến năm 2022.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2012 - 2022. Năm 2012 là thời điểm hai nước đẩy mạnh các chính sách thúc đẩy hợp tác biên giới song phương; năm 2022 là mốc thời gian Việt Nam kiểm soát đại dịch Covid-19 và mở cửa trở lại các hoạt động kinh tế - xã hội. Luận án có sử dụng dữ liệu điền dã cập nhật đến tháng 7/2023.
- Phạm vi không gian: Tuyến biên giới tỉnh Quảng Ninh, trọng tâm là thành phố Móng Cái trong mối quan hệ đối ứng với thành phố Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) và đặt trong bối cảnh tổng thể quan hệ liên kết vùng giữa hai nước.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 nội dung cốt lõi: (i) Cơ sở lý luận và thực tiễn; (ii) Các nhân tố tác động; (iii) Thực trạng phát triển; (iv) Vấn đề đặt ra và giải pháp phát triển du lịch qua biên giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và tổng thuật 4 nhóm công trình nghiên cứu chính liên quan trực tiếp đến đề tài:
1. Nhóm nghiên cứu lý luận về Khu vực học và du lịch biên giới
- Về Khu vực học: Tác giả điểm lại các quan niệm học thuật tiêu biểu của Fred W. Rigg (1998) về định nghĩa khu vực; Yumio Sakurai (2005) về không gian đặc trưng do tương tác giữa môi trường tự nhiên và nhân tạo; David L. Szanton (2003) và John Canning (2004) về tính chất liên ngành của nghiên cứu khu vực. Ở trong nước, tác giả tiếp thu quan điểm của Nguyễn Quang Ngọc (2018) về không gian có con người sinh sống, Vũ Minh Giang (2004) về không gian văn hóa, và Ngô Đức Thịnh (2008) về phân vùng văn hóa.
- Về du lịch biên giới quốc tế: Alexandr N. Poltarykhin (2019) nghiên cứu hợp tác du lịch xuyên biên giới vùng núi Altai - Sayan; Jari K. Nenonen và Svetlana V. Stepanova (2018) phân tích tuyến du lịch địa chất "Con đường khai mỏ" giữa Phần Lan và Nga; Trevor H.B. Sofield (2006) tổng quan về du lịch và cộng đồng biên giới tại Tiểu vùng sông Mê Kông; R. Dowling (2013) về địa - du lịch; Jinah Park, Serene Tse, Sherry D. Mi và Haiyan Song (2021) về mô hình quản trị du lịch xuyên biên giới vùng Vịnh Lớn (GBA).
- Quan điểm của học giả Trung Quốc về du lịch biên giới: Liu Xiaobei (2004) và Wei Guozhao (2008) về khái niệm du lịch biên giới; Wu Bihu (1999) và Chen Yanying (2004) về hệ thống hấp dẫn của điểm đến; Liu Yongming (2008) về phát triển du lịch biên giới Quảng Tây; Yang Fang và Fang Xu (2010) về an ninh du lịch vùng biên; Xie Chunshan (2001/2009) về văn hóa du lịch; Li Xue (2009/2014) về hạ tầng giao thông và tác động sinh thái.
2. Nhóm nghiên cứu trong nước về phát triển kinh tế biên mậu và du lịch Việt - Trung
- Du lịch và hội nhập: Nguyễn Văn Lưu (2013) phân tích du lịch Việt Nam và hội nhập quốc tế; Vũ Thị Thoa khảo sát cơ hội và thách thức của ngành du lịch; Dương Văn Huy (2020) phân tích phản ứng của Việt Nam đối với sáng kiến "Một vành đai, một con đường" và sự kết nối nhân dân qua du lịch.
- Kinh tế cửa khẩu và thương mại biên giới: Phạm Văn Linh (1999, 2001) phân tích vai trò kinh tế cửa khẩu tại Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Lào Cai; Nguyễn Minh Hằng (2001) nghiên cứu lịch sử và hiện trạng buôn bán qua biên giới; Đề án phát triển biên mậu Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 2006 - 2010 của Bộ Thương mại; Nguyễn Văn Lịch (2005, 2008) nghiên cứu hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và chiến lược "Một trục hai cánh"; Mã Tuệ Quỳnh (2006) đánh giá thương mại biên giới Quảng Tây; Báo cáo quy hoạch của Bộ Công Thương (2010); Đặng Xuân Phong (2012) nghiên cứu phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc thành đô thị biên giới.
3. Nhóm nghiên cứu của học giả nước ngoài và Trung Quốc về du lịch qua biên giới Việt - Trung
- Nghiên cứu về tương tác biên giới và du lịch: Chan Yuk Wah (2005, 2013) nghiên cứu tương tác xã hội, thương mại và du lịch tại Lào Cai; Gang Chen (2011) khảo sát ngành du lịch tại 4 tỉnh Tây Bắc Việt Nam giáp Vân Nam; Hong Yu (2019) nghiên cứu các nhân tố thu hút du lịch biên giới tại thành phố Phòng Thành Cảng (Quảng Tây); Lưu Kiến Văn (2007) và Lưu Kiến Văn - Lôi Tiểu Hoa (2010) phân tích khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới Đông Hưng - Móng Cái; Ngô Kiến Quốc, Mã Dũng, Tiêu Quỳnh (2011) về chiến lược "Hưng biên phú dân"; Guan Han-Zhi (2007), Gao Ge (2007), Lu Zhongshan, Wei Chaohui nghiên cứu biên mậu và mô hình khu kinh tế qua các bài viết trên tạp chí Around Southeast Asia.
- Mô hình và chiến lược hợp tác du lịch xuyên biên giới: Viên Gia Linh (2014) nghiên cứu xây dựng khu hợp tác du lịch xuyên biên giới; Hà Hữu Lương (2011) bàn về khu du lịch thác Bản Giốc - Đức Thiên; Lưu Dân Khôn, Tưởng Lệ Linh, Trần Tương Y (2015) nghiên cứu lộ trình phát triển du lịch trong khuôn khổ BRI; Hoàng Ái Liên (2014, 2017) áp dụng lý thuyết công lý không gian và mạng xã hội; Triệu Minh Long (2015) về tuyến du lịch 5 nước GMS; Trần Tuấn An (2013) về tiếp thị điểm đến; Tiền Học Lễ (2017) về du lịch văn hóa dân tộc; Dư Hải Yến (2017), Vương Đức Quang và Phàn Diễm Hồng (2017) nghiên cứu trường hợp Phố Trại - Tân Thanh; Đỗ Chung và Bối Tiểu Vi (2017); Trương Triệu Long và cộng sự (2018) về hành lang du lịch thể thao; Liêu Quốc Nhất (2006) về "Hai hành lang, một vành đai"; Trương Hồng Thạch và Tào Lệ (2016); Vi Triều Huy (2016) về tour tự lái xuyên biên giới; Trương Lỗi (2018); Dư Phồn (2016); Hà Chiến và Trương Lỗi (2016); Lý Yến và Trương Hi (2012) về hợp tác giữa Vân Nam và 4 tỉnh Tây Bắc Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
- Bổ khuyết mảng nghiên cứu lý luận có tính hệ thống về du lịch qua biên giới theo hướng tiếp cận Khu vực học (địa - du lịch) tại Việt Nam.
- Khắc phục tình trạng các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào biên mậu thuần túy hoặc quốc phòng - an ninh mà xem nhẹ tính liên ngành của du lịch.
- Cung cấp dữ liệu thực chứng và phân tích toàn diện về trường hợp tỉnh Quảng Ninh (trọng tâm là thành phố Móng Cái) trong giai đoạn 2012 - 2022, gắn với bối cảnh mới của chuyển đổi số, đại dịch Covid-19 và các chính sách quản lý biên giới song phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận nghiên cứu
- Tiếp cận từ Khu vực học (Area studies): Nghiên cứu không gian văn hóa - xã hội nơi có cư dân sinh sống, phân tích mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên, lịch sử, văn hóa tại địa bàn Quảng Ninh - Móng Cái trong quan hệ đối ứng với Đông Hưng (Quảng Tây, Trung Quốc).
- Tiếp cận liên ngành (Interdisciplinary approach): Kết hợp tri thức chuyên ngành từ kinh tế học, văn hóa học, xã hội học, địa lý du lịch, nhân học và quan hệ quốc tế để đánh giá đa chiều tác động của du lịch biên giới.
- Tiếp cận hệ thống (System approach): Xem xét hoạt động du lịch qua biên giới như một hệ thống mở, bao gồm các phân hệ (cơ sở hạ tầng, tài nguyên, chính sách, nguồn nhân lực, thị trường khách) và đặt trong sự tương tác thường xuyên với môi trường chính trị, kinh tế, xã hội bên ngoài.
- Tiếp cận hỗn hợp (Mixed approach): Kết hợp đồng thời phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top-down - đường lối, chính sách, thể chế quản lý nhà nước) và tiếp cận từ dưới lên (bottom-up - khảo sát tiếng nói, sinh kế, sự tham gia của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp địa phương).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với các kỹ thuật cụ thể:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Xử lý các văn kiện chính sách, báo cáo tổng kết của chính phủ hai nước, UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Du lịch Quảng Ninh, UBND thành phố Móng Cái và các công trình khoa học đã công bố.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Chọn thành phố Móng Cái làm trường hợp nghiên cứu điển hình do vị trí địa bàn trọng yếu, có cửa khẩu quốc tế song phương cả trên bộ và trên biển nối liền với thành phố Đông Hưng.
- Phương pháp so sánh: So sánh thực trạng phát triển du lịch giữa các tỉnh giáp biên giới phía Bắc (Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh) và đối chiếu chính sách phát triển giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi chuyên sâu với cán bộ quản lý thuộc Sở Du lịch Quảng Ninh, UBND thành phố Móng Cái, Phòng Văn hóa Thông tin, Ban Quản lý cửa khẩu quốc tế Móng Cái, Chi cục Hải quan, Đồn Biên phòng và các hiệp hội doanh nghiệp lữ hành, lưu trú.
- Phương pháp điền dã khảo sát thực địa: Tác giả tiến hành 3 đợt điền dã thực tế:
- Đợt 1: Tháng 7/2022
- Đợt 2: Tháng 3/2023
- Đợt 3: Tháng 7/2023
Tại các đợt điền dã, tác giả thực hiện quan sát tham dự, ghi âm, phỏng vấn bán cấu trúc tại các khu kinh tế cửa khẩu, điểm tham quan, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn Móng Cái.
- Phương pháp phân tích SWOT: Xây dựng ma trận đánh giá điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities), thách thức (Threats) làm cơ sở hoạch định chiến lược phát triển.
- Xây dựng khung phân tích: Mô hình hóa các nhân tố tác động, chủ thể quản lý và luồng dịch chuyển khách du lịch qua biên giới.
Nguồn dữ liệu sử dụng
| Loại dữ liệu |
Nguồn thu thập cụ thể |
Mục đích sử dụng |
| Dữ liệu sơ cấp |
- Khảo sát thực địa 3 đợt (2022 - 2023) tại Móng Cái. - Phỏng vấn sâu chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành, lưu trú, cư dân địa phương. |
Đánh giá hiện trạng thực tế, cơ chế quản lý, chất lượng dịch vụ và tác động xã hội tại cửa khẩu. |
| Dữ liệu thứ cấp |
- Báo cáo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, Cục Thống kê, Sở Du lịch Quảng Ninh, UBND TP Móng Cái. - Văn bản pháp quy, đề án phát triển kinh tế cửa khẩu của Việt Nam và Trung Quốc. - Sách chuyên khảo, bài báo khoa học trong và ngoài nước. |
Xây dựng tổng quan tài liệu, cơ sở lý luận, dữ liệu chuỗi thời gian về lượng khách và phân tích chính sách. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu phát triển du lịch qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc
Chương 1 hệ thống hóa và phân tích sâu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm chủ đề chính: (1) Lý luận Khu vực học và du lịch biên giới; (2) Thực tiễn phát triển kinh tế biên mậu và du lịch tại Việt Nam; (3) Các nghiên cứu của học giả Trung Quốc và quốc tế về biên giới Việt - Trung; (4) Hợp tác du lịch đa phương trong khu vực.
Từ việc phân tích tổng quan, tác giả chỉ ra các khoảng trống tri thức: các nghiên cứu trước đây chưa giải quyết thỏa đáng mối quan hệ hữu cơ giữa địa bàn đặc thù vùng biên với tính liên ngành của du lịch theo hướng tiếp cận Khu vực học; thiếu các phân tích cập nhật về tác động của các biến động kinh tế - chính trị và dịch bệnh toàn cầu giai đoạn 2012 - 2022. Trên cơ sở đó, chương này xác lập câu hỏi nghiên cứu tổng quan và hệ thống câu hỏi nghiên cứu phát sinh để định hướng triển khai các chương tiếp theo.
Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc khu vực tỉnh Quảng Ninh
Chương 2 tập trung giải quyết các nội dung lý luận nền tảng và bức tranh tổng quan về địa bàn nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận: Xác định nội hàm khái niệm "du lịch qua biên giới" (border tourism / cross-border tourism); phân tích mối quan hệ giữa biên giới quốc gia với hoạt động du lịch; làm rõ tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của du lịch biên giới đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu xã hội, bảo tồn văn hóa, bảo đảm an ninh quốc phòng và đối ngoại.
- Tiêu chí đánh giá: Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch qua biên giới (hạ tầng, chính sách, lượng khách, doanh thu, việc làm, mức độ hài lòng của cộng đồng và sự bền vững về môi trường).
- Cơ sở thực tiễn: Khái quát điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh; hiện trạng hệ thống 3 khu kinh tế cửa khẩu (Móng Cái, Bắc Phong Sinh, Hoành Mô - Đồng Văn); phân tích các yếu tố tác động đặc thù (chính sách biên mậu hai nước, diễn biến căng thẳng tại Biển Đông, và sự gián đoạn của đại dịch Covid-19).
Chương 3. Thực trạng phát triển du lịch qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc khu vực tỉnh Quảng Ninh từ năm 2012 đến 2022
Chương 3 đi sâu phân tích toàn diện thực trạng phát triển du lịch qua biên giới tại tỉnh Quảng Ninh thông qua trường hợp điển hình thành phố Móng Cái:
- Không gian và điều kiện phát triển: Phân tích vị trí địa lý, các tiền đề tự nhiên, văn hóa của Móng Cái trong mối quan hệ đối ứng với Đông Hưng (Quảng Tây, Trung Quốc).
- Chính sách phát triển: Phân tích đường lối của Trung Quốc (Chiến lược khai thác miền Tây, Khu thí điểm Đông Hưng, chiến lược "Một vòng ba vành đai") và chính sách của Việt Nam, tỉnh Quảng Ninh về phát triển kinh tế cửa khẩu, du lịch biên mậu.
- Hiện trạng các cấu phần du lịch (2012 - 2022):
- Cơ sở hạ tầng giao thông kết nối (đường cao tốc, cửa khẩu) và mạng lưới cơ sở lưu trú, dịch vụ kỹ thuật.
- Khai thác tài nguyên du lịch: các sản phẩm du lịch mua sắm, ẩm thực Việt - Trung, du lịch biển Trà Cổ, di tích lịch sử Pò Hèn.
- Công tác quản lý nhà nước, thủ tục xuất nhập cảnh qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái.
- Hoạt động quảng bá, xúc tiến, liên kết quốc tế (Hội chợ thương mại - du lịch quốc tế Việt - Trung tổ chức luân phiên Móng Cái - Đông Hưng; đề án xe ô tô tự lái xuyên biên giới triển khai từ cuối năm 2023).
- Tác động xã hội: Tạo việc làm cho cư dân biên giới, dịch chuyển lao động, các vấn đề an sinh xã hội.
- Thị trường khách: Thống kê số lượng lượt khách Trung Quốc đến Quảng Ninh trong giai đoạn 2012 - 2022 (đạt đỉnh cao vào năm 2019 với gần 700.000 lượt khách và suy giảm mạnh trong giai đoạn phong tỏa vì dịch bệnh 2020 - 2022).
- Phân tích SWOT chiến lược:
| Thành tố |
Nội dung nhận diện trong luận án |
| Điểm mạnh (Strengths) |
Vị trí địa kinh tế thuận lợi, có cửa khẩu quốc tế cả trên bộ lẫn trên biển nối liền thị trường Trung Quốc; hạ tầng giao thông kết nối cao tốc đồng bộ; tài nguyên tự nhiên và văn hóa biên giới phong phú. |
| Điểm yếu (Weaknesses) |
Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, phụ thuộc nhiều vào mua sắm cửa khẩu; chất lượng nguồn nhân lực du lịch chưa cao; hạ tầng dịch vụ phụ trợ tại một số cửa khẩu phụ còn thiếu đồng bộ. |
| Cơ hội (Opportunities) |
Hưởng lợi từ các thỏa thuận hợp tác song phương Việt - Trung; xu hướng gia tăng nhu cầu du lịch biên giới và tour tự lái; chính sách mở cửa sau dịch bệnh của hai quốc gia. |
| Thách thức (Threats) |
Tác động từ cạnh tranh điểm đến; biến động địa chính trị khu vực (vấn đề Biển Đông); nguy cơ buôn lậu, tội phạm xuyên biên giới, suy thoái môi trường và nguy cơ bùng phát dịch bệnh. |
Chương 4. Những vấn đề đặt ra, định hướng và giải pháp phát triển du lịch qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc khu vực tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
Chương 4 tổng kết các thách thức cốt lõi, dự báo xu hướng và đề xuất hệ thống giải pháp:
- Vấn đề đặt ra: Thách thức vĩ mô từ quan hệ song phương và an ninh biên giới; tính thiếu ổn định của thị trường khách Trung Quốc; sức ép lên hạ tầng đô thị và an ninh trật tự khu vực cửa khẩu; biến đổi môi trường sinh thái.
- Định hướng và mục tiêu: Đặt mục tiêu phát triển du lịch biên giới Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo hướng tăng trưởng xanh, bền vững, gắn với bảo tồn di sản văn hóa và bảo đảm quốc phòng - an ninh.
- 8 nhóm giải pháp đề xuất:
- Đổi mới nhận thức, tư duy: Nâng cao nhận thức của chính quyền và cộng đồng về vị trí của du lịch biên giới trong chiến lược phát triển kinh tế xanh.
- Kêu gọi, thu hút đầu tư: Huy động nguồn vốn ngoài ngân sách, thu hút các nhà đầu tư chiến lược phát triển hạ tầng du lịch cao cấp.
- Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù: Xây dựng các sản phẩm du lịch biên giới chuyên biệt như du lịch golf, tour xe tự lái (Móng Cái - Đông Hưng - Hạ Long - Nam Ninh), ẩm thực Việt - Trung, du lịch trải nghiệm văn hóa sinh thái cộng đồng, phát triển chợ phiên Pò Hèn và các trung tâm thương mại biên giới.
- Thu hút và phát triển thị trường: Tái cơ cấu thị trường khách, đa dạng hóa phân khúc du khách, giảm sự phụ thuộc thụ động vào các luồng khách biên mậu truyền thống.
- Ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số: Xây dựng hạ tầng nền tảng thành phố du lịch thông minh, áp dụng số hóa trong kiểm soát xuất nhập cảnh, quản lý điểm đến và tiếp thị số.
- Cơ chế chính sách và quản lý nhà nước: Tinh gọn thủ tục hành chính tại cửa khẩu, tăng cường phối hợp liên ngành giữa du lịch, hải quan, biên phòng; đẩy mạnh cơ chế hợp tác song phương với chính quyền thành phố Đông Hưng và Khu tự trị Quảng Tây.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ (tiếng Trung) và văn hóa ứng xử cho đội ngũ nhân lực trực tiếp và gián tiếp phục vụ du lịch.
- Bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh trật tự: Kiểm soát vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm tại các điểm kinh doanh; duy trì trật tự an toàn xã hội, đấu tranh chống gian lận thương mại và giữ vững chủ quyền an ninh biên giới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phát triển du lịch qua biên giới trong bối cảnh địa kinh tế và địa chính trị mới, chỉ ra những điểm bất cập của tư duy quản lý biên mậu truyền thống.
- Vận dụng cách tiếp cận Khu vực học và tiếp cận liên ngành (kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng) để phân tích hiện tượng du lịch biên giới, làm rõ tương tác giữa phát triển kinh tế du lịch với nhiệm vụ giữ vững an ninh, chủ quyền quốc gia và quan hệ đối ngoại.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp luận cứ khoa học và dữ liệu khảo sát thực chứng cho các cơ quan quản lý nhà nước (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, UBND thành phố Móng Cái) trong việc xây dựng quy hoạch, điều chỉnh chính sách phát triển du lịch qua biên giới đường bộ.
- Trở thành nguồn tư liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy trong các ngành Việt Nam học, Du lịch học, Kinh tế phát triển và Quan hệ quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực địa trọng tâm tại địa bàn thành phố Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh) trong khung thời gian 2012 - 2022. Giai đoạn 2020 - 2022 bị chi phối nặng nề bởi chính sách phong tỏa phòng chống dịch Covid-19 của hai nước, do đó một số chuỗi số liệu hoạt động du lịch trong giai đoạn này phản ánh trạng thái gián đoạn tạm thời.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu đánh giá giai đoạn phục hồi sau năm 2023, khi chính sách cho phép xe ô tô tự lái qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái đi sâu vào nội địa hai nước được triển khai chính thức.
- Thực hiện các nghiên cứu so sánh liên vùng mở rộng sang các tuyến biên giới lân cận (Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng) hoặc áp dụng mô hình định lượng đánh giá hành vi tiêu dùng và tác động sinh kế của cư dân vùng biên.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Luận án cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Du lịch Quảng Ninh và UBND thành phố Móng Cái trong việc hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành (biên phòng, hải quan, du lịch), nâng cấp hạ tầng cửa khẩu và xây dựng sản phẩm du lịch biên mậu.
- Đối với giới học thuật và nghiên cứu sinh: Công trình là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu Khu vực học và liên ngành trong việc phân tích các không gian kinh tế - văn hóa biên giới, đặc biệt là phần tổng quan tài liệu phong phú bằng cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung.
- Đối với doanh nghiệp du lịch: Cung cấp thông tin thực tiễn về phân tích thị trường, mô hình tour tự lái và định hướng các dòng sản phẩm đặc thù phục vụ khách du lịch qua biên giới Việt - Trung.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở nào khiến tác giả lựa chọn khung thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2022?
Năm 2012 là mốc thời gian Việt Nam và Trung Quốc ban hành và đẩy mạnh nhiều chính sách hợp tác kinh tế - du lịch biên giới song phương (trong đó có việc Trung Quốc nâng cấp Khu thí nghiệm khai phát mở cửa Đông Hưng lên cấp quốc gia). Năm 2022 là mốc thời gian Việt Nam kiểm soát đại dịch Covid-19 và mở cửa trở lại các hoạt động kinh tế, khép lại giai đoạn 10 năm đầy biến động của luồng khách qua biên giới.
2. Vì sao thành phố Móng Cái được lựa chọn làm trường hợp nghiên cứu trọng tâm của luận án?
Thành phố Móng Cái là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của tỉnh Quảng Ninh, sở hữu Cửa khẩu quốc tế Móng Cái - cửa khẩu quốc tế song phương duy nhất tại Quảng Ninh có đường biên giới cả trên bộ và trên biển nối liền với thành phố Đông Hưng (Trung Quốc), hội tụ đầy đủ các tiêu chí tiêu biểu về địa lý, hạ tầng, thương mại và giao lưu nhân dân vùng biên.
3. Khung phân tích của luận án dựa trên những cách tiếp cận khoa học chủ yếu nào?
Luận án kết hợp 4 cách tiếp cận chính: Tiếp cận từ Khu vực học (nghiên cứu không gian văn hóa - xã hội có con người sinh sống); Tiếp cận liên ngành (kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng); Tiếp cận hệ thống (xem du lịch là hệ thống mở tương tác với môi trường bên ngoài); và Tiếp cận hỗn hợp (kết hợp tiếp cận chính sách từ trên xuống và tiếp cận cộng đồng từ dưới lên).
4. Luận án ghi nhận những sản phẩm du lịch qua biên giới đặc thù nào tại khu vực Móng Cái?
Các sản phẩm du lịch đặc thù được xác định bao gồm: du lịch biên giới cửa khẩu, du lịch golf, tour xe ô tô tự lái xuyên biên giới (kết nối Móng Cái - Đông Hưng - Hạ Long - Nam Ninh), trải nghiệm ẩm thực Việt - Trung, du lịch văn hóa - sinh thái gắn với biển Trà Cổ, phiên chợ Pò Hèn và các trung tâm mua sắm thương mại cửa khẩu.
5. Tác giả đã sử dụng những nguồn dữ liệu sơ cấp nào để phục vụ cho các phân tích thực trạng?
Tác giả đã thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua 3 đợt điền dã khảo sát thực địa tại Móng Cái (tháng 7/2022, tháng 3/2023, tháng 7/2023), kết hợp các kỹ thuật quan sát, ghi chép thực địa và phỏng vấn sâu các chuyên gia, cán bộ thuộc Sở Du lịch Quảng Ninh, UBND thành phố Móng Cái, Phòng Văn hóa Thông tin, Ban Quản lý cửa khẩu, Hải quan, Biên phòng cùng đại diện các doanh nghiệp lữ hành và khách sạn trên địa bàn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Bùi Thu Thủy đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và làm rõ bức tranh thực trạng phát triển du lịch qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc tại khu vực tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2022 thông qua trường hợp điển hình thành phố Móng Cái. Bằng việc kết hợp cách tiếp cận Khu vực học, nghiên cứu liên ngành và phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên nguồn tư liệu điền dã thực chứng, công trình đã nhận diện toàn diện các nhân tố tác động, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hoạt động du lịch vùng biên. Hệ thống 8 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác hoạch định chính sách quản lý, định hướng tăng trưởng xanh và bảo đảm an ninh biên giới quốc gia trong giai đoạn mới.