CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỀN VÈ DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG KẾT HỢP VỚI VUI CHƠI GIẢI TRÍ 1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch Du lịch Theo Fedler, Anthony (1987), du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới một nước, hay ranh giới một vùng, một khu vực đê nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu lại tại đó ít nhất 24 giờ, nhưng không quá một năm. Như vậy, có thê xem xét du lịch thông qua hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi. Du lịch có thê được hiểu “là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghi dưỡng trong một thời gian nhất định” [74].
Theo quan diêm cùa Donald V. Macleod (2004), du lịch là: “Tông hợp các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, các nhà cung ứng sản phàm du lịch, chính quyền và cộng đồng địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách” [71], Theo liên hiệp Quốc các tô chức hì hành chính thức (International Union of Official Travel Organization: IUOTO): Du lịch được hiêu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ diêm cư trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải đê làm ăn, tức không phải đê làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống. Theo UNWTO: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động cùa những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghi ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác mía, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiểm tiền [97]. Theo tìr điên Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) du lịch đtrợc tách thành hai phần riêng biệt.
Nghĩa tliír nhất đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sire tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú 15 với mục đích: nghi ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật. Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tông hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiêu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dần tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thê coi là hình thức xuất khâu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ. Luật Du lịch Việt Nam 2017 quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp irng nhu cầu tham quan, nghi dưỡng, giải trí, tìm hiêu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết họp với mục đích hợp pháp khác” [40]. Khách du ỈỊch Theo tô chức du lịch thế giới (UNWTO), khách du lịch là những người có những đặc trưng sau: Là người đi khỏi nơi cir trú của mình.
Không theo đuôi mục đích kinh tế. Đi khôi nơi cir trú tìr 24 giờ trở lên. Khoảng cách tối thiêu tìr nhà đến diêm tuỳ quan niệm của từng mrớc. Khách du lịch bao gồm nhiều nhóm, cư trú tại nhiều địa phương, quốc gia khác nhau, có mục đích, phương thức và phương tiện du lịch cũng khác nhau.
Vì vậy, việc phân loại là cần thiết đê giúp các nhà cung ứng tạo ra các sản phàm phù hợp tòng nhóm đổi tượng khác nhau. Theo Luật du lịch Việt Nam (2017): Khách du lịch được phân làm 2 nhóm cơ bản: Khách du lịch quốc tế và nội địa “Khách du lịch quốc tể là người mrớc ngoài, người Việt Nam định cư ờ nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra mrớc ngoài du lịch”. Nhóm khách quốc tế được phân làm hai loại: Khách quốc tế đi vào (Inbound tourist) và khách quốc tế đi ra (Outbound tourist). “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thô Việt Nam” [40].
Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tô chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tô chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch. [40] Sản phẩm du lịch 16 Theo Tô chức Du lịch Thế giới (UNWTO), sản phâm du lịch là bao gồm 3 nhân tố chính là Tài nguyên du lịch; Hệ thống cơ sờ hạ tầng & cơ sờ vật chất kỳ thuật du lịch; và Hệ thống dịch vụ, quản lý điều hành. Theo Luật du lịch Việt Nam 2017, “Sản phâm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch đê thỏa mãn nhu cầu cùa khách du lịch”. Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, kill hậu, thùy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thê được sử dụng cho mục đích du lịch.
Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cô, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thê được sừ dụng cho mục đích du lịch. Vậy, theo cả hai cách tiếp cận ở cấp độ quốc tế và quốc gia, sản phẩm du lịch không chì giới hạn trong các dịch vụ đơn thuần (dịch vụ vận chuyên, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí.), mà còn bao gồm những yếu tố vật chất, phi vật chất và các nhân tố tạo nên sire hấp dần khách du lịch (tài nguyên du lịch và khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch). Sản phâm du lịch tạo nên thương hiệu và hình ảnh của mỗi diêm đến du lịch, của mỗi địa phương, mỗi vùng và mỗi quốc gia. Kỉnh doanh du lịch Theo Luật du lịch Việt Nam 2017, Kinh doanh du lịch bao gồm các loại hình kinh doanh dưới đây: • Kinh doanh dịch vụ lữ hành • Kinh doanh vận tải khách du lịch • Kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch • Kinh doanh các loại dịch vụ du lịch khác (ăn uống, mua sắm, thê thao, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khòe.1 Sơ đồ biên độ và phạm vi các hoạt động du lịch của Leiper Neil 1979 Hệ thống du lịch của Leíper Neỉl (1979) (Nguồn: Leiper, 1979) Theo Leiper (1979) hoạt động kinh doanh DL được tô chức tại nơi xuất phát, trên tuyến hành trinh và tại diêm đến cùa KDL.
Trong khuôn khô luận văn, tác giả tập trung phân tích các HĐDL tại diêm đến. Tống quan về du lịch nghỉ dưỡng kết hợp vui chơi giải trí Du lịch nghỉ dưỡng Khải niệm Du lịch được định nghĩa là “các hoạt động của những người đi du lịch đến và ở lại những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ trong không quá một năm liên tục đê giải trí, kinh doanh và các mục đích khác” (UNWTO 2013) và giải trí là “Hoạt động được thực hiện đê giải trí khi một người không làm việc” (Từ điên Oxford). Phục hồi sức khỏe và đời sống tinh thần là một trong những chức năng hữu ích, cực kỳ quan trọng của du lịch. Sau nhiều ngày lao động căng thăng, vất vả, nhu cầu tìm đến một nơi có phong cách thanh bình, khí hậu dề chịu, trong lành từ vùng 18 nông thôn, biên đảo đến vùng ròng núi,.
đê tĩnh dưỡng là nhu cầu hết sức cơ bản. Đó cũng chính là lý do tại sao có sự ra đời của loại hình du lịch nghi dường. Từ đó có thê định nghĩa “Du lịch nghi dưỡng là loại hình du lịch đến những nơi có điều kiện thiên nhiên, môi trường thích hợp đê thỏa mãn nhu cầu nghi ngơi giải trí, phục hồi sức khoẻ và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mòi, những căng thăng diễn ra trong cuộc sống” [21]. Du lịch có ý nghĩa quan trọng cả mặt kinh tế nếu phát triển mạnh và sâu đê thu về nhiều lợi ích kinh tế.
Một trong những loại hình đang trờ thành xu thế, đó là du lịch nghỉ dưỡng đã kết họp với dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, phục hồi sức khỏe, tắm suối nước nóng, tắm bùn, khí công, bấm huyệt, xoa bóp, châm círu, áp dụng thành ựru của y học cô truyền đang thu hút được sự quan tâm của du khách mọi nơi trên thế giới. Phân loại: Dựa vào đặc diêm địa ìý cùa diêm đến du lịch nghi dưỡng, du lịch nghi dường được phân chia thành các loại sau. Du lịch nghĩ dưỡng biên: Là loại hình du lịch gắn liền với biên. Đây là loại hình du lịch được đa số khách du lịch lựa chọn trong các chương trình du lịch vào mùa hè (mùa du lịch biên).
Là loại hình du lịch mà du khách thường kết hợp tắm biên, khám phá đảo, ngắm san hô, tham gia các chương trình trò chơi mạo hiểm dưới nước và quan trọng hơn vẫn là nghi ngơi. Du lịch nghi dưỡng nùi: Đây là loại hình du lịch được khách du lịch rất ưa thích, chi đứng sau loại hình du lịch nghi dưỡng biên về lượng khách tham quan. Du lịch nghi dưỡng ở làng quê: Với người dân ở những thành phố, các làng quê là nơi có không kill trong lành, cảnh vật thanh bình và không gian thoáng đãng. Tất cả những yếu tố đó hoàn toàn không còn tìm thấy ờ thành phố.
Vì vậy, du lịch nghi dưỡng ở làng quê có thê giúp du khách phục hồi sức khỏe sau những chuỗi ngày làm việc mệt mòi và căng thăng. [21] Dựa vào nhu cầu các hoạt động trong chuyến đi du lịch có thê phân ra: Du lịch nghi dưỡng chữa bệnh: Mục đích chính của chuyến đi là nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật hoặc chữa bệnh. 19 Du lịch nghi dưỡng kết hợp tham quan tìm hiểu văn hóa, đời sống cộng đồng', là loại hình du lịch tham quan tìm hiêu các giá trị văn hóa đặc sắc và tìm hiêu đời sống cùa người dân tại các vùng miền, dân tộc khác nhau nhằm quên đi những buồn phiền, mệt mòi, tim giãn phục hồi sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần cho du khách.