Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là một trong những trung tâm du lịch biển đảo hàng đầu của Việt Nam với chiều dài bờ biển toàn tỉnh đạt 385 km, sở hữu gần 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và vịnh Nha Trang được vinh danh là một trong 29 vịnh biển đẹp nhất thế giới từ tháng 6 năm 2003. Nhằm tận dụng lợi thế địa kinh tế và tài nguyên thiên nhiên đặc sắc, Festival Biển Nha Trang được khởi xướng từ năm 2003 và duy trì định kỳ 2 năm một lần, trở thành sự kiện văn hóa nghệ thuật và xúc tiến du lịch trọng điểm của khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.

Tuy nhiên, sau 9 kỳ tổ chức tính đến năm 2019, hoạt động khai thác du lịch từ lễ hội này đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn về tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý, sự trùng lặp về nội dung nghệ thuật, sự quá tải cục bộ của cơ sở hạ tầng lưu trú và sự suy giảm mức độ hài lòng của du khách. Vấn đề nghiên cứu đặt ra là làm thế nào để chuyển hóa tiềm năng tài nguyên của Festival Biển thành đòn bẩy kinh tế du lịch bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của thương hiệu điểm đến Nha Trang trước các sự kiện quy mô quốc gia và quốc tế.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch festival biển; khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng khai thác du lịch Festival Biển Nha Trang giai đoạn 2011 đến 2019; đồng thời thiết lập hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh du lịch cho giai đoạn tiếp theo. Nghiên cứu được triển khai tại địa bàn thành phố Nha Trang, tập trung vào các không gian tổ chức chính như Quảng trường 2 tháng 4, các công viên ven đường Trần Phú và hệ thống danh thắng vịnh Nha Trang. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách địa phương hiện thực hóa Nghị quyết của Tỉnh ủy Khánh Hòa, hướng tới mục tiêu đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và gia tăng nguồn thu từ dịch vụ sự kiện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng dựa trên sự kế thừa và tích hợp các lý thuyết nền tảng về kinh tế sự kiện và địa lý du lịch. Trọng tâm là lý thuyết du lịch festival của Waldemar Cudny năm 2013, phân tích mối quan hệ giữa các sự kiện văn hóa định kỳ với sự biến đổi không gian kinh tế xã hội và sự gia tăng nhu cầu du lịch địa phương. Đồng thời, tác giả vận dụng khung phân tích 4 chiều cạnh của Lương Hồng Quang năm 2009 về phát triển festival hiện đại, bao gồm: chính trị, kinh tế, nghệ thuật và công nghệ tổ chức sự kiện chuyên nghiệp.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được làm rõ bao gồm:

  1. Lễ hội đương đại (Festival): Hiện tượng văn hóa gắn liền với bối cảnh đô thị và kinh tế thị trường, mang tính thế tục, ứng dụng công nghệ hiện đại và được vận hành theo quy trình chuyên nghiệp, khác biệt với lễ hội truyền thống mang nặng yếu tố tâm linh làng xã.
  2. Du lịch Festival: Chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch kết hợp giữa công nghệ tổ chức sự kiện phương Tây với việc khai thác các giá trị văn hóa bản địa nhằm thu hút khách ngoài địa phương và tạo động lực phát triển kinh tế vùng.
  3. Sự kiện văn hóa đường phố (Carnaval): Hình thức biểu diễn diễu hành công cộng có tính tương tác cao với vũ đạo, âm nhạc và hóa trang.
  4. Quản lý lễ hội theo định hướng phát triển bền vững: Nguyên tắc tổ chức cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn di sản văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái biển và đảm bảo an ninh trật tự xã hội theo quy định tại Nghị định số 110/2018/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đa dạng các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập trong dòng thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2019. Nguồn thứ cấp bao gồm các báo cáo tổng kết định kỳ của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, số liệu thống kê của Sở Du lịch Khánh Hòa và các công trình khoa học chuyên ngành.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (Convenience Sampling) để tiến hành điều tra bảng hỏi tại các địa điểm tập trung đông du khách trong kỳ Festival Biển tháng 5 năm 2019 như Quảng trường 2 tháng 4, Lễ hội ẩm thực, phố đi bộ, cảng Cầu Đá và cảng Vinpearl. Tổng số phiếu phát ra là 250 phiếu, thu về 250 phiếu, trong đó có 245 phiếu hợp lệ (gồm 100 khách quốc tế và 145 khách nội địa). Bảng hỏi được thiết kế chuẩn hóa bằng 3 ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung.

Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp phân tích thống kê mô tả và so sánh tỷ lệ phần trăm là do tính chất biến động nhanh và mật độ phân tán cao của du khách tại các không gian lễ hội ngoài trời. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu các nhà quản lý lễ hội, chuyên gia sự kiện và doanh nghiệp lữ hành, kết hợp quan sát thực địa liên tục qua các kỳ lễ hội từ năm 2011 đến năm 2019 nhằm đối chiếu, kiểm chứng sâu sắc các dữ liệu định lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm và số liệu thống kê giai đoạn 2011 đến 2019 chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  1. Sự tăng trưởng bùng nổ về lượng khách tham quan tại các danh thắng trọng điểm: Dữ liệu cho thấy tổng lượng khách đến 4 điểm di tích danh thắng tiêu biểu trong thời gian diễn ra lễ hội tăng vọt từ 3.190 lượt năm 2011 lên 47.290 lượt năm 2019, tức tăng gần 15 lần. Đáng chú ý, Viện Hải dương học tăng từ 1.300 lượt lên 18.290 lượt (tăng hơn 14 lần) và Tháp Bà Ponagar tăng từ 1.000 lượt lên 10.000 lượt (tăng gấp 10 lần).

  2. Mức độ hài lòng của du khách đối với chất lượng kịch bản sự kiện ở mức thấp: Mặc dù số lượng chương trình tăng từ 30 sự kiện năm 2003 lên 59 sự kiện năm 2019, kết quả khảo sát 245 du khách năm 2019 ghi nhận có tới 52% du khách (118/245 người) đánh giá chương trình ở mức tệ và rất tệ (trong đó có 75/100 khách quốc tế đánh giá tệ). Đa số ý kiến cho rằng các chương trình trùng lặp qua các năm, thiếu vắng các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao và tính hấp dẫn chỉ dồn vào đêm khai mạc.

  3. Thời gian lưu trú của du khách tại lễ hội rất ngắn: Có tới 59% du khách (145/245 người) chỉ lưu trú lại Nha Trang 1 đêm và 36,6% du khách (90/245 người) lưu trú 2 đêm. Tỷ lệ du khách ở lại trên 3 đêm chỉ đạt 0,4%, phản ánh thực tế sự kiện chưa đủ sức giữ chân du khách dù thời gian tổ chức kéo dài từ 4 ngày chính hội đến 10 ngày hoạt động phụ trợ.

  4. Áp lực quá tải và chất lượng dịch vụ lưu trú, ẩm thực sụt giảm: Có 41,6% du khách đánh giá dịch vụ lưu trú ở mức tệ và rất tệ (102/245 phiếu); 41,2% phàn nàn về dịch vụ ăn uống. Mặc dù toàn thành phố có 1.082 cơ sở lưu trú với hơn 41.000 buồng phòng vào tháng 5 năm 2019 (trong đó có 88 cơ sở 3 đến 5 sao với 18.920 buồng), hiện tượng tăng giá phòng từ 2 đến 3 lần cùng tình trạng quá tải cục bộ tại các nhà hàng đã tác động tiêu cực đến trải nghiệm của du khách.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ mô hình quản lý phân mảnh. Ban tổ chức Festival Biển Nha Trang hiện chưa có đơn vị chuyên trách thường trực vận hành theo cơ chế thị trường mà chủ yếu ký kết hợp đồng ngắn hạn với các đơn vị tổ chức độc lập, dẫn đến sự thiếu đồng bộ và trùng lặp kịch bản biểu diễn. Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉnh trang đô thị tăng từ 3,5 tỷ đồng năm 2011 lên 11 tỷ đồng năm 2019, song các hạng mục chủ yếu tập trung vào trang trí chiếu sáng và vệ sinh môi trường mà chưa đầu tư bài bản cho không gian sân khấu chuyên dụng hay hệ thống phân luồng dịch vụ thông minh.

Khi so sánh với Festival Huế (mô hình khẳng định di sản và nghệ thuật 5 châu lục) hay Carnaval Hạ Long (mô hình lễ hội đường phố xã hội hóa cao với sự tham gia của hơn 10 địa phương), Festival Biển Nha Trang sở hữu tiềm năng tự nhiên biển đảo vượt trội nhưng chưa định vị được bản sắc độc bản và tỷ lệ tham gia thực chất của cộng đồng cư dân còn mờ nhạt.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện đà tăng trưởng lượng khách tại các điểm tham quan qua 5 kỳ lễ hội liên tiếp và biểu đồ tròn phân bổ cơ cấu lưu trú (với 49% du khách lựa chọn nhà nghỉ bình dân và 29,4% ở khách sạn 2 đến 5 sao), làm sáng tỏ sự tương phản rõ nét giữa quy mô du khách tăng nhanh và chất lượng chuỗi cung ứng dịch vụ chưa theo kịp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững du lịch Festival Biển Nha Trang - Khánh Hòa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đổi mới tư duy kịch bản và chuyên nghiệp hóa công tác tổ chức nghệ thuật: Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh phối hợp với Sở Du lịch tiến hành tái cấu trúc toàn bộ khung chương trình, cắt giảm các sự kiện mang tính hình thức, tập trung dàn dựng từ 2 đến 3 đại nhạc hội biển và lễ hội carnival đường phố đỉnh cao mang đậm dấu ấn văn hóa xứ Trầm Hương. Thiết lập mục tiêu nâng tỷ lệ du khách đánh giá tốt và rất tốt về chương trình lên trên 75% trong lộ trình từ năm 2021 đến năm 2023.

  2. Chuẩn hóa chuỗi cung ứng dịch vụ và bình ổn thị trường lưu trú, ẩm thực: Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang cùng Chi cục Quản lý thị trường tăng cường thanh tra, kiểm định chất lượng đối với 1.082 cơ sở lưu trú và mạng lưới nhà hàng trên các tuyến đường Trần Phú, Phạm Văn Đồng, Tháp Bà; thiết lập đường dây nóng 24/7 xử lý nghiêm hành vi nâng giá phòng quá quy định. Mục tiêu hạ tỷ lệ phản ánh tiêu cực về dịch vụ lưu trú và ăn uống xuống dưới 15% ngay trong kỳ lễ hội tiếp theo.

  3. Xây dựng các gói sản phẩm tour du lịch chuyên đề kéo dài thời gian lưu trú: Các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn (với 61 đơn vị quốc tế và 53 đơn vị nội địa) chủ động liên kết với các khu vui chơi cao cấp và các điểm đến biển đảo như Hòn Tre, Hòn Mun, Hòn Tằm để thiết kế các gói tour trọn gói 4 ngày 3 đêm tích hợp vé tham dự sự kiện. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách tham dự festival từ 1,4 ngày lên 3,0 ngày trong giai đoạn 2021 đến 2025.

  4. Hoàn thiện mô hình quản trị sự kiện và đẩy mạnh xã hội hóa theo Nghị định số 110/2018/NĐ-CP: Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa thành lập Trung tâm Tổ chức Sự kiện và Festival chuyên trách, chuyển dần từ cơ chế điều hành hành chính sang mô hình hợp tác công tư (PPP). Kêu gọi các tập đoàn du lịch lớn tài trợ tài chính và công nghệ trình diễn, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng nguồn vốn xã hội hóa cho công tác tổ chức lên trên 70% tổng ngân sách sự kiện vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và văn hóa: Sở Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Khánh Hòa cùng các cơ quan ban ngành tại các tỉnh duyên hải có thể sử dụng các số liệu khảo sát 245 mẫu và phân tích thực trạng 9 kỳ festival làm luận cứ khoa học để hoàn thiện quy hoạch phát triển du lịch sự kiện biển đảo tầm nhìn 2030.

  2. Doanh nghiệp lữ hành và các công ty tổ chức sự kiện chuyên nghiệp: Các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch có thể khai thác phân tích hành vi của 59% du khách lưu trú ngắn ngày để xây dựng các gói combo sản phẩm, dịch vụ bổ trợ và chiến dịch truyền thông trúng đích cho từng phân khúc khách nội địa và quốc tế.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Du lịch: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về du lịch festival biển, hệ thống hóa mô hình đánh giá tác động sự kiện và phương pháp luận khảo sát thực địa bằng 3 thứ tiếng, phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy và nghiên cứu học thuật.

  4. Hiệp hội Du lịch và các cơ sở kinh doanh lưu trú, ẩm thực địa phương: Ban quản lý hơn 1.000 khách sạn và nhà hàng tại Nha Trang có thể rút ra những bài học sâu sắc về quản trị năng lực phục vụ, quản trị giá cả trong mùa cao điểm sự kiện để nâng cao chỉ số hài lòng của khách hàng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Festival Biển Nha Trang được tổ chức với chu kỳ và quy mô thời gian như thế nào? Sự kiện được tổ chức định kỳ 2 năm một lần kể từ năm 2003 dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Quy mô thời gian thông thường kéo dài 4 ngày chính hội cùng chuỗi hoạt động hưởng ứng phụ trợ diễn ra trong khoảng 10 ngày, quy tụ 59 chương trình nghệ thuật và thể thao trong kỳ tổ chức năm 2019.

  2. Vì sao có tới 59% du khách khảo sát chỉ lưu trú 1 đêm tại Festival Biển Nha Trang năm 2019? Nguyên nhân chủ yếu do kịch bản chương trình bị đánh giá thiếu hấp dẫn sau đêm khai mạc, các sự kiện sau đó có nội dung trùng lặp và phân tán. Ngoài ra, việc giá phòng khách sạn và dịch vụ ăn uống tăng cao từ 2 đến 3 lần khiến du khách có xu hướng rút ngắn lịch trình lưu trú.

  3. Năng lực cơ sở lưu trú của Nha Trang đáp ứng ra sao trong các kỳ Festival Biển? Tính đến tháng 5 năm 2019, toàn thành phố có 1.082 cơ sở lưu trú với hơn 41.000 buồng phòng, trong đó có 88 cơ sở 3 đến 5 sao với 18.920 buồng. Dù quy mô phòng lớn, tình trạng tăng giá đột biến và cơ sở vật chất xuống cấp tại các phân khúc bình dân vẫn khiến 41,6% du khách đánh giá tiêu cực.

  4. Việc tổ chức Festival Biển Nha Trang chịu sự điều chỉnh của khung pháp lý nào? Sự kiện tuân thủ chặt chẽ theo các quy định tại Nghị định số 110/2018/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và tổ chức lễ hội. Quy định này yêu cầu thực hành tiết kiệm ngân sách, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực, bảo vệ nghiêm ngặt di tích danh thắng và đảm bảo tuyệt đối an ninh trật tự công cộng.

  5. Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu nào để khảo sát ý kiến của du khách? Tác giả đã triển khai phương pháp chọn mẫu thuận tiện với 250 phiếu phát ra và thu về 245 phiếu hợp lệ bằng 3 ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung) tại các địa bàn trọng điểm như Quảng trường 2 tháng 4, Lễ hội ẩm thực và bến cảng Cầu Đá nhằm phản ánh khách quan trải nghiệm của cả khách nội địa và quốc tế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch lễ hội đương đại và đúc kết kinh nghiệm tổ chức festival biển từ các mô hình tiêu biểu trong nước và quốc tế.
  • Khảo sát thực chứng 245 du khách tại kỳ Festival Biển 2019 chỉ ra sự tương phản giữa lượng khách tham quan tăng gấp 15 lần tại các danh thắng với tỷ lệ 52% du khách chưa hài lòng về chất lượng chương trình nghệ thuật.
  • Phân tích sâu sắc các hạn chế về kịch bản rập khuôn, thời gian lưu trú ngắn (59% chỉ ở 1 đêm) và áp lực quá tải hạ tầng dịch vụ lưu trú, ăn uống.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về đổi mới nội dung nghệ thuật, chuẩn hóa chuỗi cung ứng dịch vụ, đa dạng hóa tour tuyến và hoàn thiện thể chế quản lý sự kiện chuyên trách.
  • Xác lập lộ trình hành động giai đoạn 2021 đến 2025 gắn liền với Nghị định số 110/2018/NĐ-CP nhằm nâng tỷ lệ vốn xã hội hóa lên trên 70% và gia tăng thời gian lưu trú bình quân lên 3,0 ngày.

Công trình nghiên cứu của học viên Vũ Thị Thịnh là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cao đối với các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp du lịch. Độc giả quan tâm đến việc phát triển du lịch sự kiện biển đảo bền vững hãy đón đọc và ứng dụng các kết quả nghiên cứu chuyên sâu của luận văn vào thực tiễn quản trị điểm đến ngay hôm nay.