phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết quả nghiên cứu của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về du lịch Festival và tổng quan về Festival Biển Nha Trang, Khánh Hòa. Thực trạng phát triển du lịch Festival Biển Nha Trang, Khánh Hòa - Chƣơng 3. Giải pháp phát triển du lịch Festival Biển Nha Trang, Khánh Hòa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH FESTIVAL VÀ TỔNG QUAN VỀ FESTIVAL BIỂN NHA TRANG, KHÁNH HÒA 1. Cơ sở lý luận về du lịch Festival 1. Khái niệm Festival Theo tiếp cận của tác giả từ những tài liệu nƣớc ngoài, nguồn gốc của từ “festival” đƣợc bắt nguồn từ tiếng Latin là “festa” có nghĩa là “một ngày lễ tôn giáo”. Sau này đƣợc gọi là tắt là “festival” có nghĩa là “lễ hội”.
[56] Từ điển tiếng Việt định nghĩa “festival” là “đại hội những thành tựu âm nhạc”, “sự kiện văn hoá”, “lễ hội hiện đại”. [56] Trong công trình nghiên cứu, “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” của tác giả Dƣơng Văn Sáu (2014) nhận định: “Lễ hội hiện đại (festival) là sự kế tiếp truyền thống, từng bƣớc xác lập những truyền thống mới, góp phần khẳng định và tôn vinh những giá trị của dân tộc và thời đại trong điều kiện mới”. Theo tác giả Lƣơng Hồng Quang (2009), “Festival là hiện tƣợng văn hóa gắn với bối cảnh đô thị và nền kinh tế thị trƣờng, đƣợc tổ chức rất khác so với các lễ hội truyền thống” và “Đây là các lễ hội đƣơng đại, mang bản sắc thế tục, là một loại hình sự kiện văn hoá đô thị hơn là các nghi lễ gắn với các tôn giáo tín ngƣỡng ở các xã hội nông thôn truyền thống”[ Báo cáo đánh giá Festivla Huế - Câu chuyện về hội nhập và phát triển văn hóa]. Từ những khái niệm trên, có thể thấy các tác giả nghiên cứu ở Việt Nam đều coi festival là lễ hội mới, lễ hội đƣơng đại, sự kiện văn hoá… 1.
Đặc điểm của festival - Du nhập từ nƣớc ngoài. - Mục đích tổ chức: Ngoài bắt nguồn từ những sự kiện chính trị, lịch sử của dân tộc còn bắt nguồn từ các sự kiện thể thao, văn hoá du lịch, vui chơi giải trí… nhằm tôn vinh giá trị truyền thống, lễ hội hiện đại còn quảng bá du lịch địa phƣơng, thu hút sự đầu tƣ hợp tác kinh tế quốc tế, xúc tiến quan hệ hợp tác với các cá nhân và tổ chức trên thế giới. 9 - Chủ đề: Các lễ hội đƣơng đại này luôn gắn với từ festival, còn vế đằng sau phụ thuộc vào điều kiện vốn có của địa phƣơng. Ví dụ nhƣ: Festival Hoa Đà Lạt, Festival Trà Thái Nguyên, Festival Huế… - Ban tổ chức: Do cơ quan chính quyền địa phƣơng, đoàn thể tổ chức.
- Thời gian: Linh động nhƣng thƣờng diễn ra vào mùa du lịch và đƣợc tính theo lịch dƣơng. - Thời lƣợng: Không quá 10 ngày. - Không gian tổ chức: Các trung tâm đô thị, thủ đô và các thành phố lớn. Ví dụ nhƣ: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Hạ Long… - Cách thức tổ chức: Festival áp dụng các thành tựu khoa hoặc kỹ thuật, công nghệ hiện đại và cả tƣ tƣởng hiện đại trong việc tổ chức các nghi lễ.
- Thành phần tham dự: Bao gồm sự tự nguyện của quần chúng còn có sự sắp đặt của Ban tổ chức đối với các cá nhân tập thể tham gia, những ngƣời tham gia đƣợc tổ chức thành khối, đội hình chặt chẽ và khoa học, phục vụ mục đích khác nhau của lễ hội theo chƣơng trình định sẵn. Các khái niệm liên quan * Lễ hội truyền thống - Khái niệm Để thấy đƣợc sự khác biệt giữa festival và lễ hội truyền thống, ngƣời viết nêu thêm các khái niệm và đặc điểm của lễ hội truyền thống dƣới đây: Tác giả Trần Ngọc Thêm (2014) trong công trình “Văn hoá người Việt vùng Tây Nam” Bộ nhận định: “Lễ hội là sự tổng hợp cái linh thiêng và cái trần thế, nhằm thể hiện lòng biết ơn và bày tỏ nguyện vọng cùng sự cầu mong của mình đối với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên trong vũ trụ; phân bố theo không gian; có khuynh hƣớng thiên về tinh thần; mang đặc tính mở (lôi cuốn mọi ngƣời tìm đến); mục đích nhằm duy trì quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong làng xã”. Theo tác giả Dƣơng Văn Sáu (2016), “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch”, định nghĩa: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cƣ trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, 10 nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hoá của con ngƣời với thiên nhiên - thần thánh và con ngƣời trong xã hội”.13] * Carnaval Theo tác giả John W. Nunley và Judith Bettleheim (1988) trong công trình “Caribbean Festival Arts” (Lễ hội nghệ thuật vùng Caribbean) đã mô tả Carnival là Lễ hội đƣợc tổ chức dƣới hình thức một buổi diểu hành công cộng với sự tham gia của xiếc, mặt nạ, hóa trang và biểu diễn trên đƣờng phố.
Tác giả Nguyễn Thu Thuỷ (2016) trong công trình “Nghiên cứu mô hình quản lý Carnaval Hạ Long” cũng nhận định: “Carnaval thƣờng đƣợc tổ chức dƣới hình thức một bữa tiệc khổng lồ với ẩm thực, hoá trang, diễu hành và vũ điệu” và carnaval là dịp để “con ngƣời đƣợc giải phóng bản thân trong một khoảng thời gian nhất định”. Nhƣ vậy, đặc điểm của carnaval chú trọng đến biểu diễn, diễu hành, hoá trang… khác so với festival ở chỗ festival là các hoạt động tổng hợp. Du lịch Festival 1. Khái niệm du lịch Festival Theo nhƣ tiếp cận của tác giả, trên thế giới có một số công trình đƣa ra các khái niệm về Du lịch Festival (Du lịch lễ hội đƣơng đại), có thể kể đến Waldemar Cudny (2013) với công trình “Festival tourism - The concept, key functions and dysfunctions in the context of tourism geography studies” (Du lịch lễ hội - Khái niệm, tác động tích cực và tiêu cực trong bối cảnh nghiên cứu địa lý du lịch) định nghĩa: “Du lịch lễ hội là một sự kiện bất thƣờng, diễn ra một lần, sáu tháng hoặc hàng năm, nhấn mạnh vào việc tôn vinh, quảng bá hoặc khám phá một số khía cạnh của văn hoá địa phƣơng, hoặc là một điểm hội tụ bất thƣờng cho những ngƣời có hoạt động văn hoá nhất định, hoặc một nhận dạng văn hóa cụ thể”.
[57] Theo tác giả Tang Cong cong (2014) trong công trình “The Study of Festival Tourism Development of Shanghai” (Nghiên cứu phát triển du lịch lễ hội Thượng Hải) khái niệm: “Du lịch lễ hội là để thúc đẩy sự của địa phƣơng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các ngành công nghiệp liên quan, thông qua quy hoạch hệ thống, phát triển và sử dụng các truyền thống văn hoá độc đáo địa phƣơng, phong 11 tục dân tộc và ngành công nghiệp đặc trƣng, đƣợc tổ chức thƣờng xuyên hoặc không thƣờng xuyên trong một khu vực cụ thể có một chủ đề cụ thể, thiết lập du lịch, văn hoá, kinh tế, cuộc sống nói chung, với nhiều ngƣời tham gia vào các lễ hội”. [47] Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch lễ hội có thể kể đến nhƣ: Tác giả Dƣơng Văn Sáu (2016) nhận định về du lịch lễ hội: “Việc tổ chức các tour du lịch tới các địa phƣơng trên khắp miền đất nƣớc trong một khoảng thời gian nhất định trong năm mà thời gian đó trùng với thời gian mở hội của địa phƣơng. Hoạt động này giúp cho du khách tìm hiểu và thẩm nhận những giá trị nhiều mặt thông qua hoạt động lễ hội của địa phƣơng”.125] Mục đích của festival đƣợc tác giả Lƣơng Hồng Quang (2009) nhận định: “Các festival làm ra trƣớc hết là cho khách du lịch, thu hút khách từ nơi khác đến, qua đó cộng đồng địa phƣơng hƣởng lợi từ các dịch vụ, từ việc khai thác và sử dụng tiềm năng sẵn có của địa phƣơng. Do đó, có thể nói, việc tổ chức các festivalvà phát triển du lịch là hai mặt của một vấn đề của phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá của một cộng đồng, vùng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá”.24 ] Từ những nghiên cứu trên, tác giả có kết luận về du lịch lễ hội nhƣ sau: Du lịch lễ hội là một chuỗi các hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch đƣợc tổ chức thƣờng xuyên hoặc không dựa trên nền tảng chung, kết hợp giữa công nghệ tổ chức sự kiện của phƣơng Tây với việc khai thác các yếu tố văn hoá bản địa của địa phƣơng; Từ những cơ sở lý luận nghiên cứu ở trên, tác giả nhận thấy rằng, Festival Biển Nha Trang, Khánh Hoà chính là một lễ hội mới, một lễ hội hiện đại bởi những yếu tố sau: - Mục đích tổ chức, Festival Biển Nha Trang bắt nguồn từ việc giới thiệu vẻ đẹp của vịnh Nha Trang nhân dịp vịnh đƣợc công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới năm 2003.
Nơi đây có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật để tổ chức các sự kiện thể thao, văn hoá du lịch, vui chơi giải trí… nhằm tôn vinh giá trị truyền thống và quảng bá du lịch địa 12 phƣơng, thu hút sự đầu tƣ hợp tác kinh tế quốc tế, xúc tiến quan hệ hợp tác với các cá nhân và tổ chức trên thế giới. - Chủ đề: luôn đƣợc gắn với Festival Biển Nha Trang, Khánh Hoà - Ban tổ chức: Do cơ quan chính quyền địa phƣơng là Thƣờng vụ, Tỉnh uỷ Khánh Hoà và các đơn vị tổ chức. - Thời gian: Đƣợc tổ chức định kỳ 2 năm/lần. - Thời lƣợng: 4 ngày chính và 10 ngày với các hoạt động hƣởng ứng - Không gian tổ chức: Trung tâm Nha Trang là Quảng trƣờng 2/4, các công viên ven biển, đƣờng Trần Phú, Phạm Văn Đông… - Cách thức tổ chức: Festival áp dụng các thành tựu khoa hoặc kỹ thuật, công nghệ hiện đại và cả tƣ tƣởng hiện đại trong việc tổ chức các nghi lễ.
- Thành phần tham dự: Bao gồm sự tự nguyện của quần chúng còn có sự sắp đặt của Ban tổ chức đối với các cá nhân tập thể tham gia, những ngƣời tham gia đƣợc tổ chức thành khối, đội hình chặt chẽ và khoa học, phục vụ mục đích khác nhau của lễ hội theo chƣơng trình định sẵn.