CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1. Những vấn đề cơ bản về ngành du lịch 1.1 Khái niệm du lịch và sản phẩm du lịch Trong một thế kỷ rưỡi, du lịch đã trở thành một trong những lĩnh vực chủ yếu của hoạt động kinh tế các nước. Nó sử dụng vốn đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng, vận tải, dịch vụ… Có thể nói ngành du lịch có quan hệ mật thiết với hầu hết các ngành trong nền kinh tế quốc dân, một số sản phẩm du lịch cũng là sản phẩm của các ngành khác. Cho đến khoảng năm 1800, du lịch chỉ là một hiện tượng phụ.
Từ ngữ Tourist “du khách” được dùng xưa nhất là từ năm ấy [28]. Du lịch chỉ thực sự phát triển sau khi một biện pháp xã hội – nghỉ có trả lương – được mở rộng ra cho mọi tầng lớp dân cư của các nước công nghiệp hóa từ những năm 1930. Từ thế chiến thứ II, du lịch quốc gia hay quốc tế đã tác động trở lại tốt hơn các lĩnh vực kinh tế khác, ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng. Tự nó là nhân tố tăng trưởng và phát triển, du lịch không còn chỉ phụ thuộc vào sự nâng cao mức sống mà là vào sự tiến triển của các lối sống.
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến. Hội đồng Lữ Hành và Du lịch quốc tế ( World Travel and Tourism Council – WTTC) đã công bố du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và có tốc độ phát triển rất nhanh, song cho đến nay khái niệm “du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau. Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về “du lịch” tại Anh như sau: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí.
Ở đây sự giải trí là động cơ.” Định nghĩa về du lịch trong cuốn Từ điển bách khoa quốc tế du lịch do viện hàn lâm khoa học về quốc tế xuất bản “Du lịch là hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu 10 cầu của khách du lịch…Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được lựa chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ.” Định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào 6/1991 “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm.” Khoa Du lịch và khách sạn (ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội) trên quan điểm đưa ra đầy đủ về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động trên thế giới và ở Việt Nam trong những thập niên gần đây: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp.” Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ Du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội. Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước chẳng những đã đem lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội… Ở nhiều nước trên thế giới, ngành du lịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội.
11 Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó. Sản phẩm du lịch có những nét cơ bản sau: sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể. Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thường chiếm 80- 90 % về mặt giá trị), hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ. Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch.
Do vậy, sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến với nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch. Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa tiêu dùng khác.
Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa người tiêu dùng và sản xuất là rất khó khăn. Việc thu hút khách du lịch để tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch. Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà có thể chỉ tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (du lịch cuối tuần), trong năm (du lịch nghỉ biển, nghỉ núi…) Vì vậy, trên thực tế hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Sự dao động trong thời gian trong tiêu dùng du lịch gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các nhà kinh doanh du lịch.
Khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch luôn là vấn đề bức xúc cả về mặt thực tiễn cũng như lý luận trong lĩnh vực du lịch. Du lịch và lữ hành hiện nay là một trong những hoạt động kinh tế lớn nhất trên thế giới. Đây là một ngành công nghiệp không khói, nguồn xuất khẩu tại chỗ thu về ngoại tệ rất lớn của nhiều quốc gia và nó cũng là một bộ phận kinh tế có mức tăng trưởng nhanh nhất về mặt tạo công ăn việc làm. Theo dự báo của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) năm 2020, lượng khách quốc tế đi du lịch trên toàn cầu 1,56 tỷ du 12 khách.
Tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương nếu năm 1995 có 81 triệu khách du lịch thì theo dự đoán năm 2020 con số này đạt đến 397 triệu khách du lịch.2 Vai trò của ngành du lịch trong đời sống kinh tế - xã hội Xu hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế thế giới chỉ ra rằng tỉ trọng nông nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp và cuối cùng vai trò của kinh tế dịch vụ sẽ chiếm vai trò thống soái. Hiện nay ở các nước có thu nhập thấp, các nước Nam Á, châu Phi nông nghiệp vẫn còn chiếm trên 30% GNP, công nghiệp khoảng 35%. Trong khi đó các nước có thu nhập cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Italia…trên 70% GNP do nhóm ngành dịch vụ đem lại, nông nghiệp chỉ đóng khoản 3-5% tổng sản phẩm quốc dân. Vai trò của du lịch trong ngành dịch vụ cũng ngày càng rõ nét.
Theo hội đồng du lịch và lữ hành thế giới, năm 1994 du lịch quốc tế trên toàn thế giới đã chiếm 6% GNP, tức là có doanh thu gần 4000 tỷ đô la, vượt trên công nghiệp ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Du lịch thu hút trên 200 triệu lao động chiếm hơn 12% lao động trên thế giới. Ở Việt Nam xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã được thể hiện rõ qua các năm: Năm 2001, nông nghiệp chiếm 23,24% GDP, công nghiệp chiếm 57,91% GDP, dịch vụ chiếm 38,63% GDP. Năm 2004, nông nghiệp chiếm 21,76% GDP, công nghiệp chiếm 60,41% GDP, dịch vụ chiếm 38,15% GDP.
Với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thì du lịch đóng góp lớn cho nền kinh tế. Du lịch đã nộp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Ngoài ra cùng với sự phát triển của du lịch cũng dễ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Với những thuận lợi, những mặt tích cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta.
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước. Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển. Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điều không thể phủ nhận, thông qua 13 việc tiêu dùng của du khách đối với các sản phẩm của du lịch. Nhu cầu của du khách bên cạnh việc tiêu dùng các hàng hoá thông thường còn có những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi, thư giãn… Việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế.