CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội, là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội, quyết định sức mạnh của một quốc gia trong thời đại ngày nay, vì vậy tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu nguồn nhân lực. Tuy nhiên, tại mỗi quốc gia trên thế giới, tuỳ thuộc vào góc độ đánh giá khác nhau lại có một cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Từ điển thuật ngữ của Pháp (1977 – 1985), nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm.
Nếu theo quan điểm này thì những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không muốn có việc làm thì không được xếp vào nguồn nhân lực xã hội.Tr 14] Còn một số quốc gia khác, như ở Úc, lại xem nguồn nhân lực là toàn bộ những người bước vào tuổi lao động, có khả năng lao động. Trong quan niệm này của nước Úc thì không có giới hạn trên về tuổi của người lao động. Ở nước ta, theo cách xác định của Tổng cục thống kê, nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có tính thêm cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi.Tr 15] Dưới góc độ đánh giá của các tổ chức quốc tế thì cũng có những nhận định khác nhau về nguồn nhân lực: Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. 7 Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.Tr 5] Theo Ngân hàng Thế giới (WB) lại định nghĩa như sau: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người, bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân.Tr 2] Xuất phát từ quan điểm đánh giá khác nhau về nguồn nhân lực nên hiện nay khái niệm nguồn nhân lực hiện nay vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Theo giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [6. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điểu kiện tham gia và nền sản xuất xã hội” [11.
8 Theo giáo trình Nguồn nhân lực của Trường Đại học Lao động – Xã hội do PGS.TS Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì khái niệm nguồn nhân lực lại được giải thích theo mục đích khác nhau: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [23. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [6. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội.
Vũ Bá Thể nêu trong sách Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, xuất bản năm 2005 thì: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên phạm vi một địa phương, một ngành hay một vùng” [21. Tr 13] Trong bối cảnh đối tượng nghiên cứu của luận văn chỉ là nguồn nhân lực tại một cơ quan, doanh nghiệp thì nguồn nhân lực tại cơ quan, doanh nghiệp được hiểu như thế nào? Theo GS.TS Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, xuất bản năm 2006 thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [17.Tr 72] Ngoài ra, theo Nguyễn Tấn Thịnh nêu trong sách Quản lý nhân lực trong doanh nghiệp – 2005 thì nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. 9 Như vậy, đến thời điểm hiện nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm về nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, qua các khái niệm khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận nghiên cứu nhưng có thể thấy điểm chung nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ là số lượng và chất lượng của bộ phận dân cư tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó số lượng của nguồn nhân lực được xác định bởi các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng của nguồn nhân lực (ví dụ: nguồn nhân lực tại một thời điểm xác định là bao nhiêu, chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trong tổng dân số, tăng trưởng là bao nhiêu phần trăm một năm…); còn chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân bổ theo khu vực lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn… Trong hai góc độ của nguồn nhân lực, chất lượng đóng vai trò quyết định, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khoa học công nghệ và kỹ thuật phát triển mạnh mẽ thì nguồn nhân lực có chất lượng cao có vai trò quyết định trong sự phát triển nhanh và bền vững. Do vậy, phát triển chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của đất nước nói chung, của cơ quan và ngay cả mỗi gia đình đều cần được phát triển. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân.
Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực chính là sự bổ sung, tăng cường thêm sức mạnh, kỹ năng sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ cao hơn để lực lượng này có thể hoàn thành, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ trong một giai đoạn phát triển nhất 10 định của một quốc gia nói chung và một cơ quan nói riêng. Do đó, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội. Các quan điểm hiện nay khi nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực cũng có nhiều khái niệm khác nhau nếu xét ở góc độ vĩ mô và vi mô, cụ thể: Theo sách Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế thế giới xuất bản năm 2003 thì: “Phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất.
Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế” [26. Vũ Bá Thể nêu trong sách Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, xuất bản năm 2005 thì: “Phát triển nguồn nhân lực xã hội là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý – xã hội) và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [21. Tr 17] Hai khái niệm về phát triển nguồn nhân lực nêu trên nói về phát triển nguồn nhân lực của đất nước, từ đó khuyến nghị cho nhà nước những chính sách chung để phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô.TS Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, xuất bản năm 2006 thì: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [17. Theo giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.