Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG MẦM NON ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định trong quá trình phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Vấn đề đào tạo và phát triển NNL là đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới.
Các tổ chức có qui mô toàn cầu như WB, ADB đều cho rằng yếu tố cấu thành của sự tăng trưởng là chất lượng của lực lượng lao động và giáo dục góp phần vào tăng trưởng kinh tế thông qua năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ trình độ và vốn kiến thức của họ. Có nhiều công trình nghiên cứu lý luận có giá trị và có cả những công trình nghiên cứu thực tiễn đặc trưng, phù hợp với từng quốc gia. Những kết quả nghiên cứu đó đã giúp cho Chính phủ các nước triển khai các chương trình, đề án đào tạo và phát triển NNL có chất lượng cao phục vụ cho việc phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Trong đó phải kể đến nhà xã hội học người Mỹ Leonard Nadler, người đã cho rằng: “phát triển NNL (Developing Human resources) gồm 3 nhiệm vụ chính: GD-ĐT nguồn nhân lực, sử dụng NNL và tạo môi trường thuận lợi cho NNL phát triển”.
Một trong những công trình đã vận dụng thành công kết quả nghiên cứu của Leonard Nadler là tác phẩm “Quản lý NNL trong khu vực Nhà nước” của tác giả người Pháp Christian Batal, trong tác phẩm này, C. Batal đã dựa trên lý thuyết phát triển NNL để đi đến các hoạt động cụ thể của các cơ quan QL nhà nước nhằm phát triển NNL trong các cơ quan và tổ chức đáp ứng yêu cầu công vụ [15]; Công trình "Phát triển nguồn nhân lực: Phạm trù, chính sách và thực tiễn" của Richard Noonan [93]. Trong công trình này tác giả đã đưa ra những khái niệm và phạm trù của phát triển NNL, sự khác nhau giữa phát triển NNL và phát triển "tư bản người" cũng như những chính sách về phát triển NNL trong cơ chế thị trường của một số nước, đặc biệt đã nêu lên kinh nghiệm thực tiễn về phát triển NNL của một số nước đang phát triển trong thời kỳ thị trường lao động đang bắt đầu hình thành. Kerrigan và Jeff S.
Luke có công trình "Quản lý chiến lược đào tạo ở 10 các nước đang phát triển”[87], trong công trình này các tác giả đã nêu lên những 11 phương pháp tiếp cận về đào tạo, trong đó đề cao phương thức đào tạo tại vị trí làm việc cũng như việc đa dạng hóa mục tiêu đào tạo trong điều kiện nhu cầu đa dạng của thị trường lao động; Trong tác phẩm “Sổ tay Chiến lược đào tạo”, Martyn Sloman đã đề xuất một số mô hình đào tạo, đặc biệt việc xác định nhu cầu trước khi lập kế hoạch, thiết kế đào tạo và trách nhiệm của những nhà quản lý cũng như các chuyên gia trong công tác đào tạo, phát triển NNL đã được tác giả đề cập rất rõ trong quyển sách này[96]. Ở Việt Nam, đào tạo nhân lực trong cơ chế thị trường được đề cập đến muộn hơn, chỉ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới và chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương đổi mới đào tạo nhân lực cũng như quản lý đào tạo từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang QL theo cơ chế thị trường để đào tạo gắn với sử dụng. Chiến lược phát triển KH-XH 2011-2020 đã chỉ rõ “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn NNL, nhất là NNL chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng KH-CN, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức.
Trong công trình “Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, tác giả Phan Văn Kha trong đề tài “Mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng lao động trong nền kinh tế thị trường” đăng trên Kỷ yếu Hội nghị Đào tạo và sử dụng nhân lực sau đào tạo, năm 2008, đã nêu lên cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực trong cơ chế thị trường, đánh giá thực trạng về mối quan hệ này và đề ra một số giải pháp để tăng cường mối quan hệ này ở phạm vi vĩ mô quốc gia như thiết lập hệ thống thông tin thị trường lao động, quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo, hoàn thiện hệ thống chính sách đào tạo và sử dụng nhân lực sau đào tạo, xây dựng hệ thống tổ chức điều phối và phát triển nhân lực; Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-05-10 của tác giả Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha (đồng chủ biên) là một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn trong công tác đào tạo nhân lực, đặc biệt là đào tạo NNL chất lượng cao cho đất nước. Trong công trình, các tác giả đã xây dựng khung lý luận về đào tạo nhân lực, từ mối quan hệ giữa đào tạo nhân lực với chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình CNH-HĐH đất nước trong điều kiện KTTT, 12 toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đến tiếp cận hệ thống về đào tạo nhân lực và đào tạo nhân lực trong cơ chế thị trường. Phân tích thực trạng lực lượng lao động và đào tạo nhân lực các trình độ. Các tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp về đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước trong điều kiện KTTT, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế [24]; Các công trình nghiên cứu trên cho thấy trong quá trình CNH-HĐH đất nước, để thực hiện thành công các mục tiêu KT-XH cần có NNL chất lượng cao.
Phát triển đội ngũ HT trường MN chính là phát triển NNL của bậc học MN, tức là tiếp cận lý thuyết phát triển NNL để tìm cách đạt được các mục tiêu: - GD&ĐT để đội ngũ HT trường MN đạt đến sự chuẩn hoá, hiện đại hoá; - Thực hiện các chế độ, chính sách để đảm bảo về mặt vật chất và tinh thần cho đội ngũ HT trường MN; - Tạo ra môi trường làm việc tốt nhất, đảm bảo tính hợp lý, tính xã hội hoá và tính đồng thuận trong tổ chức; - Sắp xếp, bố trí công việc một cách hợp lý phù hợp với số luợng và cơ cấu; - Tăng cường cơ chế dân chủ hoá trong nhà trường. Nghiên cứu về phát triển CBQLGD Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý, đội ngũ CBQL, lãnh đạo theo từng giai đoạn lịch sử: Trung Hoa cổ đại có các tư tưởng quản lý của Khổng Tử, trên cơ sở đạo nhân, Khổng tử đã tiếp cận các yếu tố nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng, tín, lợi và thành vào việc truyền đạo để có được tầng lớp quản lý như “quân tử”, và “kẻ sĩ” [40], tư tưởng đó của Khổng tử đã thể hiện phương thức phát triển đội ngũ nhân lực quản lý thời bấy giờ và đã được nhân loại tiếp nhận đến bây giờ. Các công trình khoa học kinh điển về chính trị, kinh tế và quản lý xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã để lại cho xã hội những tư tưởng quản lý xã hội và vai trò của người đứng đầu tổ chức, xã hội. Trong Bộ Tư bản, Các Mác đã xem vai trò của nhà quản lý như người nhạc trưởng trong dàn nhạc với nhận định “…Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải cần có nhạc trưởng” [14].
Một số công trình của các tác giả Liên Xô (cũ) đã đề cập tới lực lượng giáo dục, trong đó nêu lên vai trò, vị trí, chức năng của CBQL nhà trường, tiêu biểu như Ilina.A với tác phẩm “Giáo dục học” [41]; Savin N.V với tác phẩm “Giáo dục 13 học, tập 2” [58] đã tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản của QL nhà trường, phân tích mối quan hệ giữa phát triển giáo dục, phát triển KT-XH và phát triển nhân lực GD trong đó tập trung trình bày phương thức phát triển đội ngũ CBQLGD, đối tượng ảnh hưởng trực tiếp đối với mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả GD; Năm 1991, tổ chức UNESCO đã cho xuất bản cuốn “Quản lý hành chính và sư phạm trong các nhà trường tiểu học” của Jean Valérien. Thông qua việc giới thiệu một số modul về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người HT trường tiểu học, tác giả đã bày tỏ quan điểm về vai trò, trách nhiệm và yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người HT và phương thức phát triển đội ngũ HT nhà trường [98]. Năm 1987, UNESCO và ILO với tác phẩm “Vị thế nhà giáo cho thế kỷ XXI”, Ủy ban Quốc gia về các Tiêu chuẩn chuyên môn nhà giáo đã phát hành một bản yêu cầu mang tính nguyên tắc định hướng nghề nghiệp đầu tiên: thầy giáo cần phải biết và có thể làm gì? Thầy giáo cần có những năng lực cốt lõi được hòa trộn đó là kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin [80, tr. Tiến sĩ Lee Little Soldier trong công trình nghiên cứu “Những chiến lược hiệu quả dành cho giáo viên và các nhà lãnh đạo giáo dục trong kỷ nguyên toàn cầu hóa” [48] đã đề cập đến những thay đổi phức tạp xảy ra trong một xã hội do toàn cầu hóa, đã ảnh hưởng đến chính sách và thủ tục theo nhiều cách.
Để đạt được những thành công về xã hội, học thuật trong thế kỷ 21 đòi hỏi phải có thay đổi trong GD và trường học. Trường học hiệu quả phải có lãnh đạo tốt, người lãnh đạo phải có những kỹ năng thích ứng với thời đại. Vì vậy công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo phải được xem xét một cách khoa học. Đại học Nam Florida đã quy định chuẩn chương trình đào tạo cho CBQL trường học là chương trình tích hợp bao gồm mười một vùng kiến thức, kỹ năng theo 4 lĩnh vực lớn: Lãnh đạo chiến lược, lãnh đạo tổ chức, lãnh đạo giáo dục, lãnh đạo chính trị và cộng đồng [86].
Những tác phẩm trên là những chuyên khảo có ý nghĩa tham khảo tốt cho các nghiên cứu về nâng cao chất lượng của đội ngũ CBQL GD Việt Nam hiện nay.