Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung cấp chuyên nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Lạng Sơn. Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, khởi đầu của vấn đề quản trị con người trong các tổ chức là quản trị nhân sự với việc chú trọng đơn thuần lên các vấn đề quản trị hành chính nhân viên. Phòng nhân sự thường có vai trò mờ nhạt, chỉ thụ động giải quyết các vấn đề mang tính chất hành chính, sự vụ theo các qui định của doanh nghiệp hoặc theo yêu cầu của các lãnh đạo. Trong thế kỷ này, quản trị con người trong phạm vi của các tổ chức, doanh nghiệp đã áp dụng ba cách tiếp cận chủ yếu: Quản trị trên cơ sở khoa học, quản trị theo các mối quan hệ con người và quản trị nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, hai cách tiếp cận đầu là quản trị theo khoa học và quản trị theo các mối quan hệ con người đều đã phai nhạt, ngày nay chỉ còn cách tiếp cận quản trị nguồn nhân lực là được sử dụng rộng rãi. Vào cuối thế kỷ XIX, phong trào quản trị trên cơ sở khoa học do Taylor (1856-1915) khởi xướng, được nhiều nhà khoa học khác nồng nhiệt kế tục, tích cực phát triển như Gilbreth, Gantt,v. Phương pháp quản trị trên cơ sở khoa học được áp dụng rộng rãi và mang lại nhiều kết quả to lớn về năng suất lao động và sản lượng. Nhưng phương pháp này có nhược điểm là không quan tâm đến quyền lợi của người lao động.
Từ giữa những năm đầu của thập niên 30 thế kỷ XIX, phong trào quản trị khoa học được thay thế bằng quản trị các mối quan hệ con người. Khởi đầu bằng nghiên cứu của Hawthone từ năm 1924 và kéo dài đến nhiều năm sau. Tiếp theo là nghiên cứu của Elton Mayo và F.Roethlisberger đã dẫn đến sự áp dụng rộng rãi các phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu khoa học hành vi đối xử trong công nghiệp. Đồng thời, năm 1935 đạo luật Wagner ra đời ở Mỹ đã giúp cho các tổ chức công đoàn phát triển mạnh mẽ và buộc người sử dụng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lao động phải quan tâm hơn đến điều kiện làm việc và các chương trình phúc lợi cho người lao động.
Từ cuối những năm 1970, vấn đề cạnh tranh gay gắt trên thị trường cùng với sự chuyển đổi từ quá trình sản xuất công nghiệp theo lối cổ truyền sang quá trình sản xuất theo các công nghệ kỹ thuật hiện đại, những biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, việc làm và nhu cầu ngày càng nâng cao của nhân viên đã tạo ra cách tiếp cận mới về quản trị con người trong các tổ chức doanh nghiệp. Vấn đề quản trị con người không còn đơn giản chỉ là vấn đề quản trị hành chính nhân viên. Cách tiếp cận quản trị nguồn nhân lực đòi hỏi cán bộ phòng quản trị nhân lực phải có hiểu biết tốt về tâm lý xã hội, nghiên cứu hành vi, tổ chức, luật pháp và các nguyên tắc kinh doanh, giáo dục. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở việt Nam, kế thừa tinh hoa các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của triết học Mác - Lê nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 -1969), Người đã để lại cho chúng ta nền tảng về lý luận: vai trò của giáo dục, vai trò của quản lý, cán bộ quản lý, phương pháp quản lý, phát triển nền giáo dục cách mạng Việt Nam.
Nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Đức Chính, Đặng Xuân Hải,… bằng sự tổng hòa các tri thức về giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, các tác giả đã thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình một cách khoa học về khái niệm quản lý, các thành phần của cấu trúc quản lý, chức năng quản lý, nguyên tắc quản lý, nghệ thuật quản lý và quản lý giáo dục tạo thành một môn khoa học đặc trưng góp phần vào công cuộc phát triển GD&ĐT nước nhà. Ngày nay, đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia thì GD&ĐT luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể nói, đầu tư cho giáo dục là đầu tư để tạo nguồn dự trữ chiến lược quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người, đầu tư cho khả năng sáng tạo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của họ.
Trong tiến trình phát triển và hội nhập đã cho thấy rõ, nước nào đặt giáo dục đúng vị trí thì sự hội tụ của trí tuệ do giáo dục đem lại sẽ nâng tầm kinh tế của nước đó lên tầm cao mới, quốc gia nào đầu tư kém cho giáo dục thì sẽ tụt hậu và sẽ còn tồi tệ hơn cả sự phá sản. Xã hội vận động và biến đổi không ngừng, nguồn nhân lực được đào tạo chỉ đáp ứng được yêu cầu trong sự vận động biến đổi ấy, khi nó không lạc hậu so với yêu cầu của xã hội, điều ấy chỉ ra rằng trong nhà trường phát triển ĐNGV phải có tính đón đầu, kế hoạch, có chiến lược, mục đích là: Phát triển toàn diện người giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp của họ “Những thiếu sót trong khâu đào tạo nghiệp vụ, các nhu cầu cập nhật, các kỹ năng cần thiết, không phải là nguyên do căn bản đến phát triển đội ngũ giáo viên, cũng như việc bồi dưỡng mang tính chữa cháy, lại càng không thể đóng vị trí chủ chốt trong công tác phát triển đội ngũ ”. Trong các nhà trường ĐNGV là nguồn nhân lực chủ yếu quyết định chất lượng và hiệu quả đào tạo, quyết định sự tồn tại, phát triển nhà trường. Chăm lo phát triển ĐNGV đã và đang là sự quan tâm của toàn xã hội, là nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục, do vậy quản lý ĐNGV phải được ưu tiên trong chiến lược phát triển nhà trường trong giai đoạn mới.
Những năm gần đây, nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nhân sự trong giáo dục, trong đó có vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên theo bậc học và ngành học trong đó chủ yếu đề cập đến đội ngũ giáo viên của các trường Đại học, Cao đẳng và khối trường Trung học chuyên nghiệp. Có thể kể đến nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Lan, nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên tại viện Đại học mở Hà nội trong giai đoạn hiện nay; nghiên cứu của tác giả Nguyễn mạnh Tường về các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định giai đoạn 2006-2010; nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Xoan về những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà nội đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay; tác giả 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặng Thị Thoa đề cập đến vấn đề hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ giảng viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền; nghiên cứu của tác giả Đào Thị Hồng Thuỷ về xây dựng đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của trường Cao đẳng Du lịch Hà nội, v. Khảo sát các nghiên cứu nêu trên có thể rút ra một số nhận xét như sau: - Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục.
- Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên được tập trung vào hai mặt chính: Nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên theo từng cấp học; Nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên ở từng cơ sở giáo dục. - Chưa có những nghiên cứu cụ thể về phát triển đội ngũ giáo viên của Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Lạng Sơn. Như vậy, nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên của Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Lạng Sơn là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Quản lý Theo Từ điển Tiếng việt thông dụng – Nhà xuất bản Giáo dục – 1998 thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Trong tác phẩm “ Lý luận quản lý Nhà nước” của tác giả Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: “ Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối”.
Khái niệm quản lý có ngoại diên rất rộng, từ việc ăn uống đến sinh lão bệnh tử, từ cá nhân đến gia đình, từ quốc gia đến thế giới, từ vật chất đến tinh thần, nơi nào có sự hiện 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com diện của con người thì nơi đó đều cần đến hoạt động quản lý.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.Mác đã viết: “ Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng.” Khái niệm quản lý còn có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau. TayLor nhà lý luận quản lý Mỹ cho rằng: “ Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.