CHƯƠNG 1 CƠ SỞ L LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Xây dựng và phát triển ĐNGV trong GD được các nước trên thế giới đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong các cuộc cách mạng cải cách GD, chấn hưng, phát triển đất nước. Đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về quản lí và phát triển ĐNGV trong khu vực và trên thế giới.
Có thể liệt kê một số công trình của các tác giả tiêu biểu như: Felding và Schalock (1985); Guzman (1995); Kettle và Sellars (1996); Kalelestad và Olweus (1998); Tattlo (1999); Darling-Hammond (1999); Ganser (2000); Cochran-Smith và Lytle (2001); Youngs (2001); Grosso de Leon (2001). Tất cả các công trình trên có thể phân chia theo 4 hướng nghiên cứu chính: - Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nghề nghiệp GV. - Nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ thực tiễn để phát triển nghề nghiệp GV. - Nghiên cứu cải tiến các kĩ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho GV.
- Nghiên cứu phát triển nghề nghiệp cho GV như là một yêu cầu của tiến trình cải cách GD. Năm 1988, Ấn Độ đã quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm học tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội cho mọi người dân đều được học tập theo nhu cầu, học tập suốt đời. Việc bồi dưỡng giáo viên ở các trung tâm này đã mang lại hiệu quả thiết thực. Đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada… đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tai Pakistan, nhà nước đã xây dựng chương trình bồi dưỡng về sư phạm cho ĐNGV và quy định trong 3 tháng cần bồi dưỡng những nội dung gồm: Nghiệp vụ giạy học; Tâm lý học GD; Phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh đối với ĐNGVgiảng dạy chưa quá 3 năm. Ở Philippin, công tác nâng cao chất lượng ĐNGV không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức thành từng khóa học trong thời gian HS nghỉ học. Nội dung cần học tập được tiến hành thường xuyên trong kì nghỉ hè của 4 năm liền. Đó là: Nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lí học và đánh giá GD.
Các môn học về quan hệ con người, triết học, nội dung và PPDH. Nghiên cứu GD, viết tài liệu trong GD. Kiến thức nâng cao, kĩ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết tài liệu tham khảo. Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho ĐNGV, cán bộ QLGD là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.
Tùy theo thực tế cảu từng đơn vị, từng cá nhân mà các cấp QLGD đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là cứ từ 3 đến 5 GV được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học. Ở Việt Nam Việt Nam chúng ta có truyền thống hiếu học và trọng Thầy. Xưa, người Việt Nam có câu “Không thầy đố mày làm nên”.
Tư tưởng đó cho thấy người Việt chúng ta luôn đề cao và tôn trọng Người Thầy. Vị trí, vai trò của thầy cô giáo là hết sức quan trọng, tác động và ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người học. Chính vì thế chất lượng ĐNGV là yếu tố cần được coi trọng và phát triển. Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư (khóa IX) về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp GD để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, theo những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước”.
Nghị quyết 29 hội nghị trung ương 8 khóa XI đã xác định: Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, theo yêu cầu đổi mới GD&ĐT.Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở GD nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm. Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.
Cán bộ quản lý GD các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý. Gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, phát triển ĐNGV, phát triển đội ngũ CBQL GD,… có thể kể đến như: Phạm Minh Hạc (2005), Nguồn lực con người, yếu tố quyết định sự nghiệp phát triển xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên; Bùi Minh Hiền (2009), Quản lý GD, Nxb Đại học Sư phạm; Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí (2010), Đại cương khoa học quản lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Kiểm (2012), Những vấn đề cơ bản của khoa học Quản lý GD, Nxb Đại học Sư phạm; Bên cạnh đó, nhiều luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lí GD quan tâm đến đề tài phát triển ĐNGV đã được bảo vệ thành công như: Đề tài “ Biện pháp phát triển ĐNGV Trung học phổ thông Chuyên Lê Hồng Phong tỉnh Nam Định theo yêu cầu đổi mới GD phổ thông”- Luận văn Thạc sĩ Quản lí GD, 2010 của tác giả Trần Thị Vân Anh. Tác giả Nguyễn Thị Hằng với đề tài “Phát triển ĐNGV trường Trung học phổ thông Mê Linh, Hà Nội”- Luận văn Thạc sĩ Quản lí GD, 2012. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu của Đặng Minh Tiến về “ Phát triển ĐNGV Trung học phổ thông Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.”- Luận văn Thạc sĩ Quản lí GD, 2010 Trần Thị Thu Trang với đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông Thành phố Nam Định theo Chuẩn nghề nghiệp”- Luận văn Thạc sĩ Quản lí GD, 2012.
Các tác giả đã nghiên cứu lí luận, phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm thưc hiện hiệu quả hơn công tác phát triển ĐNGV ở địa phương mình, đơn vị mình phù hợp với điều kiện, đặc điểm của địa phương, đơn vị đó. Tuy nhiên, vấn đề phát triển ĐNGVTH Gia Thụy - Long Biên - Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp thì chưa có tác giả nào đề cập tới. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV TH Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội theo Chuẩn nghề nghiệp là thực tiễn và hết sức cần thiết. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý GD 1.Quản lý Ngay khi xuất hiện, để sinh tồn và phát triển, loài người đã biết quy tụ thành bầy, nhóm. Con người đã biết phân công, hợp tác để đi từ lao động đơn lẻ đến lao động phức tạp, cần sự phối hợp. Đó chính là hoạt động quản lí ở thủa sơ khai. Như vậy, có thể nói hoạt động quản lí xuất hiện rất sớm và phát triển không ngừng cho đến nay.
Vì thế, nói đến quản lí, có khá nhiều những khái niệm, định nghĩa khác nhau. Trước hết, phải nói đến “ cha đẻ của thuyết quản lí khoa học” – W.Taylor (1856 – 1915)- ông cho rằng: “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất.”, Còn tác giả người Mỹ H.Kootz trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật; còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [17].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: Quản lý = quản + lý (quản: giữ; Lý: chỉnh sửa). Quản lý = Ổn định và phát triển. Quản lý = Tập quyền và tán quyền. Quản lý = Nắm và buông.
Quản lý = Học thuật và nghệ thuật [1]. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [22]. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể QL. QL là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đề ra.
QL còn là một quá trình tác động có mục đích vào một hệ thống nhằm làm thay đổi hệ thống đó hoặc đưa vào hệ thống đó một lượng thông tin mới, một số chất lượng mới, một thuộc tính mới. Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý tuy chưa thật đồng nhất, về cơ bản các nhà khoa học đều khẳng định 4 chức năng QL cơ bản đó là: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo điều hành và Kiểm tra đánh giá.