Chương 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUAN LY TRUONG TIEU HOC. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề. Trên thế giới. Trong lĩnh vực nghiên cứu về khoa học quan ly va QLGD, voi sự nhận biết về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của người CBQL đối với sự tồn tại, phát triển của một cơ quan, nhà trường và sự ảnh hưởng có tính quyết định đến chất lượng và hiệu quả các hoạt động của cơ quan, nhà trường: từ đó, đã có các nhà khoa học ở nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm đến việc nghiên cứu đội ngũ CBQL nói chung, QLGD nói riêng.
Chính vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục nói chung, CBQL trường Tiểu học nói riêng và biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường Tiểu học để đảm bảo cho sự thành công và đạt tới mục tiêu chiến lược phát triển của nhà trường, của ngành giáo dục đề ra như: - Tác giả Jean Valérien, trong tác phâm “Quản lý hành chính và sư phạm trong các nhà trường Tiểu học (La Gestion administrative et Pédgogique desécoles) do UNESCO xuất bản năm 1991, đã phân tích về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người Hiệu trưởng trường Tiểu học; qua đó, tác giả đã có những gợi ý các yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người Hiệu trưởng tiểu học và phương thức phát triển đội ngũ đó. - Nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là Hiệu trưởng nhà trường cho rằng: “Kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học”, cùng với nhiều tác giả khác, ông đã 7 nhắn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất quản lý giữa Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra. Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu của các nhà khoa học mà trong đường lối chính sách phát triển giáo dục của các nước trên thế giới, đều coi phát triển đội ngũ CBQL trường học là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục: - Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đảo tạo lại cho đội ngũ giáo viên, cán bộ QLGD là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định, cụ thể là mỗi cơ sở giáo đục cử từ 3 đến 5 giáo viên được đảo tạo lại theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp đạy học.
- Tại Singapore, SEM - với Mô hình quản lý trường học ưu việt đề cập đến lãnh đạo nhà trường tài năng với các tiêu chí: “Người lãnh đạo phải nêu gương sáng, có khả năng lãnh đạo, hiểu rõ mục đích, tôn trọng, khuyến khích nhân viên. Một người lãnh đạo lĩnh hội được sứ mệnh của trường học với các mục tiêu cụ thể, năng lực lãnh đạo tốt, và sự thông cảm cũng như tôn trọng đồng nghiệp sẽ là động lực cho những người khác noi theo. Với vai trò của mình, Hiệu trưởng phải vạch ra một tầm nhìn đối với những thành tích, kết quả dự định đạt được và tạo ra một môi trường học tập lý tưởng cho học sinh và cả giáo viên. Hiệu trưởng cần duy trì liên tục mục đích tăng cường năng lực cho giáo viên dé đối mặt với thử thách hiện tại và tương lai và luôn phấn đấu vì sự phát triển để hướng tới nền giáo dục toàn diện cho học sinh và giáo viên”.
Trong mô hình này, lãnh đạo nhà trường được xếp vào tiêu chí số một. Vấn đề về công tác cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đặt lên vị trí hàng đầu trong xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, hơn ai hết, Người thấy rõ vai 8 trò, vị trí của cán bộ. Hồ Chí Minh chỉ rõ “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”.
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định nguồn lực con người là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH). Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Chỉ thị số 40 CT/TW ngày 15/6/2004 về xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và đội ngũ cán bộ QLGD, nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đảo tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước”. Đất nước ta trên đà phát triển về mọi mặt thì GD & ĐT càng được chú trọng và quan tâm nhiều hơn. Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Có thể thấy rằng đối mới căn bản, toàn điện giáo dục dù tiếp cận ở bất cứ góc độ nào thì giải pháp đổi mới quản lý giáo dục luôn được coi là khâu đột phá then chốt, là một yêu cầu cấp bách hàng đầu của việc tiếp tục triển khai, điều chỉnh và nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay. Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 cũng chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn điện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế QLGD, phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL là khâu then chốt”. [16], [38], [19], [21] Bên cạnh đó, còn có nhiều bài báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, nhiều Luận án, Luận văn cũng nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL trường TH, TH&THCS, THCS của một số địa phương, trong đó, có thé dé cap dén: + Luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa” của Nguyễn Văn Du.
(ĐHSP Huế, năm 2014) [14] + Luận văn thạc sĩ “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Xuân Hướng; (ĐHQG Hà Nội, năm 2016) [L7] + Luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường Tiểu học huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ theo chuẩn hiệu trưởng trường Tiểu học” của Lê Đức Tiến; (ĐHQG Hà Nội, năm 2017)[36] + Luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường TH huyện Bu Đăng, tỉnh Bình Phước” của Trần Quốc Tuấn. (ĐHSP Huế, năm 2019) [44] + Luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học huyện Hưng Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Minh Quang; (ĐHSP Huế, năm 2000) [29] + Luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đáp ứng chuẩn hiệu trưởng” của Vũ Văn 10 Đạo; (ĐH Quy Nhơn, năm 2020) [13] + Luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các Trường tiểu học huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định” của Đặng Văn Minh; (ĐH Quy Nhơn, năm 2020) [23] Nhìn tổng thể, các luận văn trên đây đã đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường Tiểu học, gắn với đặc thù của địa bàn nghiên cứu. Ngoài ra đã có nhiều công trình khoa học, nhiều bải báo, luận án, luận văn trong và ngoài nước nghiên cứu về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và phát triển nguồn nhân lực giáo dục. Đề cập đến đội ngũ CBQL giáo dục, các nhà khoa học có những công trình nghiên cứu tập trung nhiều về tiêu chuẩn, yêu cầu của người CBQL trong các trường học, bồi dưỡng nghiệp vụ cho CBQL và các nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL, trong đó, có phát triển đội ngũ CBQL trường Tiểu học.
Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL các trường Tiểu học thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Binh Dinh. Vi vay, phat triển đội ngũ CBQL các trường Tiểu học để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết. Các khái niệm cơ bản. Quản lý như một hoạt động đã xuất hiện từ rất lâu, kể từ khi con người biết hợp tác, phân công trong lao động.
Quá trình đó được hình thành nên kinh nghiệm lãnh đạo, tô chức, quản lý. Song, phải đến thế kỷ XVIII mới hình thành và phát triển thành khoa học quản lý. Cho đến nay, vẫn còn có nhiều quan điểm, nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm quản lý. Tuy nhiên, từ trên bình diện chung, có thể nêu lên một số cách tiếp cận khái niệm quản lý như sau: Theo Các Mác trong Các Mác (2003), Toàn tập "Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng chung 11 xuat hién trong toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó" [8] Trên một tương quan khác, khi bàn về quản lý, K.Marx đã nêu lên một ý tưởng rất độc đáo: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiến mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng.” Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, Paul Hersey và Ken Blane Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực”, cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” /26J.
Harold Koontz lại khẳng định: “Quản 1ý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức.