phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn trình bày trong 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trƣờng tiểu học quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng hiện nay. 5 z Chƣơng 3: Các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trƣờng tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
6 z Chƣơng1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Ngay từ những ngày đầu tiên của Nhà nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ đã rất quan tâm đến phát triển sự nghiệp giáo dục, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo Việt Nam. Tƣ tƣởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) về công tác cán bộ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Mọi thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém", " Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong"[47]. Trong chiến lƣợc phát triển giáo dục Việt Nam từ nay đến 2010, Ngành GD&DT đã rất coi trọng đến công tác phát triển đội ngũ CBQL ở các cấp học, bậc học.
Gần đây đã có nhiều bài viết của nhiều tác giả bàn về vấn đề xây dựng đội và phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung, đội ngũ CBQL nói riêng. Trong các bài viết đó các tác giả đã đề cập đến vai trò của đội ngũ nhà giáo, đội ngũ CBQL, đến yêu cầu về chất lƣợng của đội ngũ trong công tác đào tạo thế hệ trẻ và đã đƣa ra một số giải pháp để thực hiện công tác phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã chắt lọc những vấn đề tinh túy nhất của các công trình khoa học về quản lý của nƣớc ngoài để thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về những vấn đề đội ngũ CBQL. Họ đã tiếp cận quản lý trƣờng học chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học hoặc đề cập tới thành tố lực lƣợng giáo dục, giới thiệu khái quát về chất lƣợng và phƣơng thức nâng cao chất lƣợng giáo dục, trong đó có CBQL trƣờng học.
Một số công trình tiêu biểu nhƣ: Bản chất và tính qui luật của quá trình giáo dục của Hà Thế Ngữ [40]; Giáo dục học đại cƣơng của Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê [34]; Kiểm định chất lƣợng giáo dục đại học của Nguyễn Đức Chính (chủ biên) [15]; Lý thuyết quản lý của Đỗ Hoàng Toàn[46]; Bên cạnh đó đã có những tác giả của các luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD 7 z nhƣ: Nguyễn Minh Quang, Võ Hào, Lê Quốc Băng, Phan Quang Vinh, Trần Văn Hạnh., đã đề cập đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trong các trƣờng phổ thông đến cao đẳng, đại học. Song các đề tài khoa học của các tác giả nói trên đều mang tính đặc thù ở từng địa phƣơng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục ở những thời điểm, thời gian nhất định. Riêng ở thành phố Hải Phòng cho đến nay theo những tài liệu mà chúng tôi theo dõi đƣợc vẫn chƣa có tác giả nào đề cập đến công tác phát triển đội ngũ CBQL trƣờng tiểu học để đáp ứng sự nghiệp đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay một cách đầy đủ và có hệ thống. Do vậy, trong luận văn này chúng tôi mong muốn đƣa ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phƣơng trong công tác phát triển đội ngũ CBQL trƣờng tiểu học ở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng trƣớc yêu cầu và nhiệm vụ mới.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 1. Quản lý và quản lý trường học 1. Quản lý Quản lý là từ Hán Việt đƣợc ghép giữa từ “quản” và từ “lý”. Quản là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định.
Lý là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Nhƣ vậy, quản lý là trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển. Theo nhiều cách trình bày về khái niệm quản lý của các nhà khoa học: - W.Taylor thì cho rằng quản lý là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS.
Nguyễn Quốc Chí viết: "Quản lý là hoạt động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức"[11]. Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến” [41]. Đặng Quốc Bảo cho rằng: "Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung" [5]. Trần Quốc Thành thì: "Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hƣớng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con ngƣời nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với qui luật của khách quan" [44].
Các khái niệm trên đây, tuy khác nhau về cách diễn đạt, song chúng có chung những nét đặc trƣng cơ bản chủ yếu sau đây: - Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. - Hoạt động quản lý là những tác động có tính hƣớng đích. - Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Qua các cách giải thích về quản lý nhƣ trên, chúng ta thấy: - Trong quản lý có ngƣời chỉ huy, điều khiển và có ngƣời, đồ vật hoặc sự việc bị chỉ huy, bị điều khiển.
Hai đối tƣợng này tác động qua lại và quy định lẫn nhau. - Trong quản lý phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung. Có thể nói, tính mục đích là thuộc tính vốn có trong hoạt động xã hội, đặc biệt là trong hoạt động quản lý. Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý, chủ thể quản lý luôn luôn hƣớng theo mục đích xác định và lôi cuốn đối tƣợng bị quản lý thực hiện mục tiêu của tổ chức.
9 z Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: quản lý là hoạt động đƣợc tiến hành trong một tổ chức; với các tác động có tính hƣớng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Nhƣ vậy, quản lý một tổ chức là sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu đề ra. Tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể nói rằng: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động. Nhƣ vậy, khái niệm quản lý bao hàm các khía cạnh: Hệ thống quản lý gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tƣợng quản lý.
Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tƣợng quản lý và ngƣợc lại. - Trả lời đƣợc câu hỏi: Ai quản lý? Thì đó là chủ thể quản lý. Do đó, chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do ngƣời cụ thể lập nên. Cá nhân làm chủ thể quản lý đƣợc gọi chung là CBQL.
Ví dụ ở bình diện vĩ mô toàn cầu là Tổng thƣ ký Liên hợp quốc; ở trong một nƣớc là Tổng thống hoặc Thủ tƣớng; ở trong một ngành là Bộ trƣởng. ở bình diện vi mô một doanh nghiệp là giám đốc; ở một nhà trƣờng là hiệu trƣởng. - Trả lời đƣợc câu hỏi: Quản lý ai? Quản lý cái gì? Quản lý sự việc gì? thì đó là đối tƣợng quản lý. Do đó, đối tƣợng quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức hoặc có thể là một vật thể (cỗ máy, kho tàng.) hoặc có thể là sự việc (luật lệ, quy chế.
Khi đối tƣợng quản lý là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đƣợc con ngƣời đại diện có thể trở thành 10 z chủ thể quản lý cấp dƣới thấp hơn theo hệ thống cấp bậc. Ví dụ: Chủ tịch quận là đối tƣợng quản lý của chủ tịch thành phố nhƣng chủ tịch quận lại là chủ thể quản lý của chủ tịch phƣờng. Điều đó có nghĩa là khi nói chủ thể hay đối tƣợng quản lý là ngƣời hoặc tổ chức đƣợc con ngƣời đại diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể. Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tƣơng hỗ nhau.
Chủ thể quản lý nẩy sinh các động lực quản lý, còn khách thể quản lý thì làm nẩy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con ngƣời, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý. Công cụ quản lý là các phƣơng tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến đối tƣợng quản lý nhƣ các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chƣơng trình, kế hoạch. Phƣơng pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý. Phƣơng pháp quản lý rất phong phú và đa dạng: Phƣơng pháp thuyết phục, phƣơng pháp kinh tế, phƣơng pháp hành chính-tổ chức, phƣơng pháp tâm lý-giáo dục.; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phƣơng pháp khác nhau hoặc kết hợp các phƣơng pháp với nhau.
Mục tiêu của quản lý là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con ngƣời. Nhƣ vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành, tập hợp con ngƣời, công cụ, phƣơng tiện, tài chính.