phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ quản lý và công tác phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lí các trường tiểu học huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013-2020. 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Quản lý là một hoạt động mang tính lịch sử xã hội, nhờ có hoạt động quản lý mà xã hội loài người không ngừng vận động và phát triển.Mác- Ănghen trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã rút ra kết luận: Một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất tư bản là nhờ có vai trò của hoạt động quản lý. Để nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, hàng nghìn năm trước đây các bậc hiền triết như Xôcrát (469-399 Tr.CN), Platôn (427-347 Tr.CN), Khổng Tử (551-478 Tr.CN), Mạnh Tử (372-289 Tr. đã nhấn mạnh đến vị trí, vai trò và những phẩm chất, năng lực cần có của những người trực tiếp làm công tác quản lý xã hội mà ở phương Đông trước đây gọi là những người làm Quan. Theo Khổng tử và Mạnh Tử để trở thành ông quan tốt cần phải có: Nhân, Lễ, Trí, Tín, Dũng.
Từ khi quản lý trở thành khoa học cho đến ngày nay đã xuất hiện hàng nghìn công trình nghiên cứu về phẩm chất người lãnh đạo, quản lý. Trong Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của các quốc gia đều chú trọng xác định tiêu chuẩn và chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ có vai trò quan trọng này. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của hoạt động quản lý, người đã khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”, cán bộ cách mạng phải là người “vừa hồng, vừa chuyên”, đó chính là mối quan hệ giữa tài và đức trong nhân cách người cán bộ quản lý, trong đó đức là gốc còn tài chính là năng lực của con người có được một phần từ yếu tố bẩm sinh còn chủ yếu qua quá trình học tập, rèn luyện, công tác từ chính những công việc của bản thân mà nên. Để có được đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn, đặc biệt là trong thời kì đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước và hội nhập quốc tế thì công tác cán bộ là hết sức quan trọng.
8 z Nghị quyết số 42-NQ/TƯ ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch, phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lí thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đã nêu rõ: “Tạo sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược trong công tác cán bộ; khắc phục tình trạng hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lí, bảo đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định chính trị. Chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lí các cấp trong hệ thống chính trị vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng do Tổng bí thư Nông Đức Mạnh trình bày ngày 18 tháng 4 năm 2006 cũng khẳng định chúng ta phải “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lí, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng. Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài dù là đảng viên hay người ngoài Đảng”.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, về giáo dục - đào tạo, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu theo chốt ” [19, 119] Qua các Nghị quyết của Đảng cho thấy tầm quan trọng cũng như sự quan tâm, chú trọng của Đảng và nhà nước ta về công tác cán bộ. Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lí là một nhiệm vụ hết sức cần thiết và đòi hỏi phải dựa trên cơ sở khoa học. Xuất phát từ quan điểm con người là động lực trực tiếp của sự phát triển, mà giáo dục và đào tạo lại là môi trường để xây dựng đội ngũ nhân lực cho toàn xã hội.
Chính vì vậy, trong các Chiến lược phát triển giáo dục đã đưa ra nhiều giải pháp 9 z nhằm chấn hưng và phát triển nền giáo dục nước nhà, trong đó nhấn mạnh giải pháp đổi mới quản lí giáo dục. Một trong những giải pháp cụ thể là: Xây dựng và thực hiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục. Đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục các cấp về kiến thức, kĩ năng quản lí và rèn luyện phẩm chất đạo đức; đồng thời điều chỉnh, sắp xếp lại cán bộ theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm chất của từng người. Ở Việt Nam, từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước cho đến nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục có đề cấp đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục như: “Một số vấn đề về quản lý và khoa học giáo dục” của tác giả Phạm Minh Hạc (1986); “Khoa học quản lý nhà trường phổ thông” của tác giả Trần Kiểm (2003); “Tập bài giảng lý luận đại cương về quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hà Nội 1998); “Khoa học tổ chức và quản lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB thống kê Hà Nội 1999); “ Tâm lý xã hội trong quản lý” của Ngô Công Hoàn (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2002); “Giáo trình khoa học quản lý” của tác giả Phạm Trọng Mạnh (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2011).
Với từng công trình nghiên cứu, các tác giả đã tập trung phân tích thực trạng của công tác phát triển CBQL, quy hoạch giáo viên, đưa ra các biện pháp cần thiết, khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình ở mỗi địa phương. Từ đó giúp cho việc thực hiện tốt hơn công tác phát triển cán bộ quản lí, giáo viên của các nhà trường ở từng địa phương. Mỗi địa phương có những đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, vì vậy không thể vận dụng máy móc, cứng nhắc kinh nghiệm công tác phát triển CBQL ở nơi này vào nơi khác mà phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo phù hợp thực tiễn của mỗi địa phương. Đề tài “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lí các trường tiểu học huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013-2020 ” nhằm phân tích có cơ sở khoa học thực trạng giáo dục, công tác phát triển CBQL các trường tiểu học trong huyện, từ đó đề xuất phương án và đưa ra các biện pháp có tính cần thiết, khả thi cao về phát triển đội ngũ CBQL các trường tiểu học huyện Ân Thi giai đoạn 2013- 2020, phù hợp với thực tiễn địa phương, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Một số khái niệm cơ bản 1. Biện pháp, phát triển. * Khái niệm “biện pháp”. Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện Khoa học xã hội Việt Nam thì biện pháp có nghĩa là: Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
* Khái niệm “phát triển”. Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển là “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [33, 37]. Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ. Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng và con người trong xã hội.
Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên. Theo tác giả Đặng Bá Lãm: “Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái mới ra đời. Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao. Còn cái cao là cái thấp đã phát triển”.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. * Khái niệm “quản lý” Thực tiễn quản lý phát triển xã hội cho thấy quản lý gắn liền với hoạt động của con người trong cuộc sống, là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Trong đời sống kinh tế - xã hội, vấn đề quản lý trở nên hết sức phức tạp.
Chính sự đa dạng, phong phú và phức tạp đó nên khi nói về quản lý đã có nhiều cách khái niệm khác nhau.