Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non theo hướng chuẩn hóa. Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa. Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG MẦM NON THEO HƢỚNG CHUẨN HÓA 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong lao động, đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý., phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Ở Việt Nam, khoa học quản lý tuy còn non trẻ, song đã có những thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội trong những điều kiện cụ thể tương ứng với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong lĩnh vực quản lý giáo dục ở Việt Nam về ngành học mầm non những năm gần đây đã được các cấp, các ngành quan tâm và có nhiều đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước tập trung nghiên cứu xung quanh những vấn đề như: xây dựng mục tiêu đào tạo GDMN. Xây dựng chăm sóc giáo dục trẻ theo từng độ tuổi, chiến lược phát triển Giáo dục Mầm non từ trước đến nay còn quá ít, việc nghiên cứu riêng về CBQL trường học ở một chừng mực nào đó, vấn đề này đã được cập nhật một cách rải rác trong các tài liệu sau: “Tài liệu bồi dưỡng Hiệu trưởng Mẫu giáo” (Bộ GD-ĐT ban hành năm 1989) “Một số vấn đề quản lý trường mầm non” của Đinh Văn Vang (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm, Hà Nội 1996) “Những biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của trường mầm non” (Nguyễn Thị Châu, Trường Cao đẳng sư phạm nhà trẻ Mẫu giáo Trung ương I, năm 2000). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Một số biểu hiện năng lực tổ chức của người Hiệu trưởng trường Mầm non Hà Nội” (Nguyễn Thị Lộc, Đại học Sư phạm I, Hà Nội 1995-1997). “Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành học Mầm non” (Bộ giáo dục và đào tạo, Trường cán bộ quản lý GD&ĐT, Hà Nội 2000) Điểm chung của tất cả các công trình vừa kể tên trên đã đề cập đến đội ngũ CBQL mầm non, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ về các biện pháp xây dựng đội ngũ này, Hiện nay, các địa phương nhận thức thấy vai trò quan trọng và yêu cầu cấp bách trong việc xây dựng đội ngũ CBQL nên đã tự biên soạn các chương trình đào tạo, bồi dưỡng riêng cho mình, với nội dung rất đa dạng, muôn màu muôn vẻ, ít nhiều cũng góp phần vào việc nâng cao trình độ lý luận quản lý, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ mầm non.
Tuy đạt được một số ưu điểm trên nhưng còn nhiều vấn đề cần phải bàn đến như sau: - Còn xem nhẹ phần kiến thức cơ sở, chưa đảm bảo việc gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành. - Chưa đề cập đầy đủ các công việc của người hiệu trưởng mầm non, nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết giảng. - Các bài tập trong chương trình phần lớn là những bài tập riêng lẻ, rời rạc với một số lượng ít ỏi, thời gian dành cho thực hành còn hạn chế. - Việc lập kế hoạch rất được chú trọng trong chương trình cũng vẫn không được giảng dạy thật cụ thể, tỉ mỉ.
Những năm vừa qua, ngành giáo dục Thị xã Sơn Tây, Hà Nội cũng đã có nhiều công trình được nghiên cứu và triển khai như việc xây dựng đội ngũ giáo viên bồi dưỡng giáo viên dạy giỏi, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý THCS, song chưa có đề tài nào nghiên cứu biện pháp xây dựng đội ngũ CBQL trường Mầm non. Vì thế, ở đây tác giả khảo sát thực trạng năng lực quản lý của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường Mầm non thị xã Sơn Tây. Từ đó, có cơ sở để đề xuất biện pháp xây dựng đội ngũ CBQL trường 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mầm non phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương theo yêu cầu đối mới giáo dục và thông tư số 17/2011/BGDĐT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định Chuẩn hiệu trưởng trường mầm non. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Quản lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó, Quản lý rất cần thiết cho tất cả mọi lĩnh vực hoạt động đời sống của con người. Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù là nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm chính thức, nhóm không chính thức và bất kể nội dung hoạt động nhóm đó là gì. Có thể nói quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó.Marx đã nói: “Tất cả mọi người lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung, tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo những hoạt động của cá nhân, nhằm điều hòa các hoạt động đó và thực hiện các chức năng chung. Một nhạc sĩ độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [19] Điều đó cho thấy rằng hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động của xã hội loài người, nhằm đạt mục đích nhất định.
Đây chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp với sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt được mục tiêu đề ra. Hoạt động quản lý còn là hoạt động lao động để điều khiển lao động, một loại hoạt động có ý nghĩa tất yếu và vĩnh hằng với chức năng điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục. Như vậy, có thể hiểu khái niệm quản lý theo nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau. Trong khuôn khổ của luận văn này tác giả chỉ đưa ra một trong số những định nghĩa kinh điển nhất: Quản lý là tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [ 10].
Từ các quan niệm về quản lý, chúng ta có thể rút ra những vấn đề cốt lõi của quản lý đó là: Chủ thể quản lý (ai quản lý): Chỉ có thể là con người hoặc một tổ chức do con người cụ thể lập nên. Khách thể quản lý (quản lý ai, quản lý cái gì, quản lý công việc gì): Đó có thể là người, tổ chức, vật chất hay sự việc. Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý còn khách thể quản lý thì sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý. Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động đó nhằm đạt mục tiêu.
Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động. Xét dưới góc độ điều khiển học hành động quản lý chính là quá trình điều khiển sắp xếp tác động làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái (từ lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà quản lý). Đội ngũ Khái niệm về đội ngũ: Từ điển Tiếng Việt giải thích: “ Đội ngũ là tập hợp số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một lực lượng” [34]. Khái niệm “đội ngũ” dùng các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi như: Đội ngũ trí thức, đội ngũ thanh niên xung phong, đội ngũ giáo viên.
Các khái niệm đó đều xuất phát theo cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó là gồm nhiều người tập hợp thành một lực lượng, hàng ngũ chỉnh tề. Tuy nhiên ở một nghĩa chung nhất chúng ta có thể hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số đông người hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích xác định. Họ làm theo kế hoạch và gắn bó với nhau bằng lợi ích vật chất và tinh thần cụ thể. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, khái niệm đội ngũ có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng đều thống nhất: Đó là một nhóm người, một tổ chức, tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một mục đích nhất định.
Do đó người quản lý nhà trường phải xây dựng, gắn kết các thành viên tạo ra đội ngũ, trong đó mỗi người có thể có phong cách riêng, nhưng phải có sự thống nhất cao về mục đích cần đạt tới. Cán bộ quản lý Khái niệm cán bộ: “Cán bộ” là một khái niệm, tên gọi của một người có chức vụ trong một tổ chức, một cơ quan; người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong một tổ chức, một cơ quan. Khái niệm “cán bộ” xuất hiện trong đời sống chính trị của nước ta từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong từ điển Tiếng Việt “cán bộ” được định nghĩa như sau: Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong một cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể.
Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ. Theo từ điển Tiếng Việt CBQL là: “Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ.” [34] CBQL là chủ thể quản lý gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý.