CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DNNVV 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về trợ giúp phát triển DNNVV thì khái niệm như sau: “doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Tiêu chí phân loại DNNVV Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ các tiêu chí phân loại DNNVV như sau: Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại DNNVV (nghị định 56/2009/NĐ-CP) DN siêu Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Khu vực Số lao động động nguồn vốn động vốn Nông, lâm 10 người từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 20 tỷ đồng nghiệp và trở người đến đồng đến người đến trở xuống thủy sản xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Công 10 người từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 20 tỷ đồng nghiệp và trở người đến đồng đến người đến trở xuống xây dựng xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Thương 10 người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 10 tỷ đồng mại và trở người đến đồng đến 50 người đến trở xuống dịch vụ xuống 50 người tỷ đồng 100 người Luan van 9 Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (WB) và công ty tài chính quốc tế (IFC) các doanh nghiệp được phân chia theo quy mô như sau: Doanh nghiệp vô cùng nhỏ: có 10 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 100.000 USD, tổng doanh thu hàng năm không quá 100.
Doanh nghiệp nhỏ: có không quá 50 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 3.000 USD, tổng doanh thu hàng năm không quá 3. Doanh nghiệp vừa: có không quá 300 lao động, tổng tài sản trị giá không quá 15.000 USD, tổng doanh thu hàng năm không quá 15. Ngoài ra một số nước trên thế giới còn xác định theo tiêu chí khác Bảng 1.2 Tiêu chí xác định DNNVV của một số nước Nước Số lao động Tổng vốn hoặc giá Doanh thu trị tài sản Indonexia <100 0,6 tỷ rupi <2 tỷ rupi Philippin <200 100 triệu peso Singapore <100 Thái Lan <100 Mianma <100 <300 trong công nghiệp <0,6 triệu USD <1,4 triệu USD và xây dựng 0,25 triệu USD Hàn Quốc <20 trong thương mại và dịch <10 triệu yên vụ <300 trong công nghiệp <1,4 triệu USD <1,4 triệu USD và xây dựng <30 triệu yên Đài Loan <50 trong thương mại và dịch <10 triệu yên vụ <100 trong bán buôn <100 triệu yên Nhật Bản <50 trong bán lẻ <300 trong các ngành khác EU <250 <27 triệu ECU 40.000 ECU Mỹ <500 (Nguồn: Kỷ yếu khoa học, dự án chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV ở VN) Luan van 10 1. Đặc điểm của DNNVV DNNVV có các đặc điểm sau: DNNVV chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp của cả nước, chủ yếu thuộc khu vực ngoài quốc doanh (NQD) với nhiều hình thức (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh).
Phần lớn số liệu thống kê chủ yếu thống kê cho khu vực doanh nghiệp NQD, ít có số liệu điều tra cho toàn bộ các DNNVV Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, tốc độ đổi mới công nghệ chậm; Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong DN, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất, kinh doanh. Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế. Tuy Việt Nam có nguồn lực lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề thấp, sức khỏe thấp, năng suất lao động không cao,. Sức cạnh tranh của DN và sản phẩm, dịch vụ thấp: hàm lượng vốn cấu thành trong sản phẩm thấp; hàm lượng tri thức và công nghệ cũng như tính độc đáo của sản phẩm không cao; giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm thấp; Khả năng hạn chế về vốn, tiếp cận nguồn thông tin,… của các DNNVV, sự bảo hộ của Nhà nước đối với khu vực DNNN… đã hạn chế năng lực cạnh tranh của DNNVV Quản trị nội bộ của DNNVV còn yếu, nhất là quản lý tài chính; ý thức chấp hành các chế độ chính sách chưa cao; còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một hội ngành nghề.
Lợi thế của DNNVV Luan van 11 DNNVV cần vốn đầu tư ban đầu ít, lao động không nhiều, dễ dàng quản lý nên dễ khởi sự; có thể tận dụng dễ dàng mọi nguồn lực trong xã hội cho yêu cầu phát triển; dễ linh hoạt về thời gian giao hàng, giá cả nên dễ giao dịch; có tính linh động, có tính phản ứng nhanh trước sự chuyển biến mạnh về sản phẩm, dịch vụ, quy trình sản xuất và thị trường. Từ đó, DNNVV ít bị tổn thất hơn so với doanh nghiệp lớn khi thị trường biến động. Dễ dàng đổi mới thiết bị công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp Không có hoặc ít có xung đột giữa người sử dụng lao động và người lao động. Mối quan hệ giữa họ khá chặt chẽ, gắn bó.
Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của DNNVV ít gây ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền. DNNVV hơn hẳn các doanh nghiệp lớn về ảnh hưởng tích cực ra môi trường xung quanh vì đây là thành phần kinh tế thu hút nhiều lao động, đặc biệt là lao động trung bình và thấp, góp phần rất lớn trong giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, tạo sự phát triển cân bằng giữa các khu vực. Là sự bổ sung thiết yếu cho chính sự sinh tồn và phát triển của các doanh nghiệp lớn. DNNVV là những mắt xích nhỏ nhưng rất quan trọng đối với các doanh nghiệp lớn vì DNNVV thường sản xuất hoặc gia công các sản phẩm làm đầu vào hoặc đầu ra cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp lớn.
Sự quan tâm của cơ quan nhà nước trong việc hỗ trợ phát triển DNNVV thể hiện cụ thể qua Nghị định, nghị quyết của Chính phủ và nghị quyết, kế hoạch triển khai cụ thể của từng địa phương. Bất lợi của DNNVV Quy mô về vốn nhỏ và gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn chính thức. Luan van 12 Trình độ công nghệ lạc hậu và tốc độ đổi mới lại quá chậm. Hạn chế về năng lực cán bộ, công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất- kinh doanh.
Trình độ tay nghề của lao động chưa cao do chủ yếu sử dụng nguồn lao động phổ thông, chưa qua đào tạo. Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ còn thấp. Nguyên nhân là do trình độ công nghệ thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, mẫu mã không đa dạng khiến giá trị gia tăng của sản phẩm thấp. Hạn chế về công nghệ thông tin, hạn chế về vốn cũng làm giảm sút về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hoạt động phân tán, rải rát khắp cả nước nên rất khó hỗ trợ. Vai trò của DNNVV Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, nhìn chung có một số vai trò tương đồng nhau: DNNVV giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. DNNVV là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo,… DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chỗ làm việc, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo.
Theo số liệu của Hiệp hội DNNVV Việt Nam, trong mấy năm gần đây, hằng năm khối DNNVV tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; hiện đang sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP… Số tiền thuế và phí mà các DNNVV tư nhân đã nộp cho Nhà nước tăng 18,4 lần sau 10 năm qua. DNNVV cũng đã và đang là nơi hoạt động có hiệu quả nhất trong Luan van 13 việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh. Giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn.
Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. Làm cho nền kinh tế năng động. DNNVV có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh hoạt động.
DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ,… Đối với doanh nghiệp lớn, DNNVV còn có thể làm đại lý, vệ tinh, tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp vật tư đầu vào với giá rẻ hơn, góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp lớn. Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ quan trọng. DNNVV thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Là trụ cột của kinh tế địa phương.
Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, tăng sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. Tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng miền trong một quốc gia trong nền kinh tế Việt Nam.