Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Những vấn đề cơ bản về thanh tra thuế 1.1 Khái niệm thanh tra thuế * Khái niệm thanh tra thuế Hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý là cơ quan thuế (CQT) tới các đối tượng quản lý là người nộp thuế (NNT)) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào NSNN. Hoạt động quản lý của CQT bao gồm từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành thanh tra việc thực hiện đó như thế nào để từ đó tác động ngược trở lại từ khâu xác định chủ trương kế hoạch có hợp lý hay không nhằm đảm bảo cho hoạt động của CQT đạt hiệu quả cao. Thanh tra thuế là một trong những khâu quan trọng trong công tác quản lý thuế (QLT) theo mô hình chức năng. Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai tự nộp thuế của NNT, CQT thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế.
Thanh tra được hiểu với nghĩa là một dạng hoạt động để rút ra nhận xét, đánh giá và cuối cùng là nhằm tác động, điều chỉnh hoạt động của con NNT sao cho cho phù hợp mục đích đặt ra. Tại Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010 đã đưa ra khái niệm về thuật ngữ thanh tra [17] như sau: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quy tắc 6 quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó” Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/12/2012 của Chính phủ có nêu rõ Tổng Cục Thuế, Chi Cục Thuế được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực thuế. Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu: “Thanh tra thuế là hoạt động của CQT trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng được thanh tra, từ đó đối chiếu với Luật thuế, xem NNT có thực hiện đúng quy định của Luật thuế hay không và có những đánh giá, nhận xét về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT. Áp dụng các chế tài xử lý vi phạm theo đúng hành vi vi phạm”.
Thanh tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát tồn tại để kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ. Thanh tra thuế là hoạt động giám sát của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội. * Phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế Thanh tra, kiểm tra Kiểm trathuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội Giữa hoạt động thanh tra thuế và kiểm tra thuế có nhiều điểm tương đồng nhau bởi chúng đều là nhiệm vụ quản lý Nhà nước. Nếu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra, ngược lại nếu theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả kiểm tra.
Vì vậy trong thực tiễn, nhiều người thường hay nhầm lẫn và đồng nhất hoạt động thanh tra và kiểm tra thuế. Tuy nhiên, với tư các là một hoạt động độc lập, thanh tra thuế và kiểm tra thuế có những điểm khác biệt như sau (Bảng 1.1) 7 Theo pháp luật quản lý nước ta: Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên, mang tính nhiệm vụ của cơ quan quản lý thuế được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan quản lý thuế dựa trên hồ sơ khai thuế của người nộp thuế. Việc kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế, chỉ thực hiện khi họ không tự giác sửa đổi, bổ sung những nội dung sai sót mà cơ quan thuế đã kiểm tra, phát hiện và yêu cầu. Nội dung kiểm tra thuế là kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thuế của người nộp thuế trong việc kê khai thuế.
Thanh tra thuế là kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức cao hơn, hoàn thiện hơn. thanh tra thuế được thực hiện định kì đối với các đối tượng nộp thuế lớn, ngành nghề kinh doanh đa dạng, quy mô lớn hoặc với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế và thanh tra thuế để giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng bộ Tài chính.1: Điểm khác biệt giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế Thanh tra thuế Kiểm tra thuế Kiểm tra định kỳ Kiểm tra mang tính thường xuyên hơn Công việc được tiến hành thường xuyên khi cán bộ thuế tiến hành xem xét, đánh giá hồ sơ khai thuế của DN tại CQT Phải ban hành quyết định kiểm tra Không phải ban hành quyết định kiểm tra Thanh tra thuế thì phải có đoàn Kiểm tra thuế không nhất thiết phải thanh tra, kết luận của thanh tra thành lập đoàn kiểm tra, kết quả kiểm phải được xử lý theo pháp luật về tra của cán bộ thuế có thể xử lý hoặc quản lý thuế không (có thể nhắc nhở) 8 1.2 Mục đích của thanh tra thuế Hoạt động thanh tra thuế nhằm: Một là, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế Đây là mục tiêu chủ yếu, trực tiếp của hoạt động thanh tra thuế. thanh tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành, bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Tính chất thường xuyên của hoạt động thanh tra có tác dụng phòng ngừa các vi phạm pháp luật.
Nghị quyết 26-HĐBT ngày 15/02/1984 của HĐBT nêu rõ thanh tra là "nhằm mục đích phát huy mặt đúng, ngăn ngừa sửa chữa cái sai, làm cho chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh và thu hành có hiệu quả thiết thực. Hai là, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật Định hướng xã hội Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu phải tăng cường tính pháp chế, kỷ cương pháp luật trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức và trong cách thức hành xử của mỗi công dân. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải phát hiện nhanh chóng và xử lý nghiêm minh. Hoạt động thanh tra thuế là xem xét việc thực hiện pháp luật về thuế của cơ quan, tổ chức, cá nhân, từ đó tìm ra những hành vi sai phạm, người vi phạm, đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý.
Hiện nay, khi hành vi vi phạm về thuế còn diễn ra phổ biến thì phát hiện các vi phạm để xử lý là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và là mục đích quan trọng của hoạt động thanh tra thuế. Ba là, phát hiện những sơ hở, hạn chế chưa đồng bộ trong cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi bổ sung Hoạt động thanh tra không chỉ nhằm phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật, mà còn giúp cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá lại bản thân cơ 9 chế, chính sách, các quy định của pháp luật, các quyết định quản lý của mình đã phù hợp với thực tiễn cuộc sống chưa, có khiếm khuyết, sơ hở gì dễ dẫn đến sự vi phạm để kịp thời sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục các sơ hở, khiếm khuyết đó. Bốn là, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế Đây là những mục đích có tính chất gián tiếp nhưng cũng không kém phần quan trọng của hoạt động thanh tra, nhất là việc “Phát huy nhân tố tích cực’ qua hoạt động thanh tra. Nhân tố tích cực ở đây được hiểu là những việc làm hay, mạnh dạn thể hiện một tư duy mới, một tư cách suy nghĩ và hành động mới phù hợp với quan điểm và chủ trương đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta, nhất là trong lĩnh vực thuế.
Mặt khác, thanh tra thuế không chỉ xem xét, đánh giá sự việc đúng, sai và còn phải đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Thông qua hoạt động thanh tra thuế cần kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tham nhũng, nhũng nhiễu gây tổn thất tài sản xã hội chủ nghĩa và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây không chỉ là yêu cầu của nhà nước mà còn là yêu cầu của nhân dân đối với ngành thuế.3 Phân loại thanh tra thuế Thanh tra thuế cũng được phân chia thành nhiều loại khác nhau theo những tiêu thức khác nhau.1 Theo yếu tố thời gian Thanh tra thường xuyên: Đối với cùng một đối tượng, loại hình này thường diễn ra ở thanh tra tra thường xuyên, chủ yếu là tự thanh tra trong các đơn vị ngành thuế; Thanh tra bất thường: Là một trong những hình thức chủ yếu của thanh tra trong lĩnh vực xét và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân; thường 10 được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan có chức năng thanh tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra.2 Theo yếu tố phạm vi Thanh tra từng phần: Thường được áp dụng với một sắc thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp; Thanh tra toàn phần: Là loại hình thanh tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của DN mà DN đó có nghĩa vụ thực hiện và ngành thuế có trách nhiệm quản lý.