mở đầu bằng việc xác định các thang đo các khái niệm chính của nghiên cứu dựa trên kết quả thảo luận nhóm. Bản câu hỏi được hình thành bao gồm các thang đo này (xem Phụ lục 1, trang 64). Kế hoạch chọn mẫu được xây dựng, quá trình thu thập thông tin được tiến hành. Kế đó việc xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS được thực hiện để kết luận các giả thuyết nghiên cứu.
Cuối cùng kết quả từ SPSS sẽ được phân tích, giải thích và trình bày thành bản báo cáo nghiên cứu.1 Xây dựng thang đo Các tập biến quan sát (26 phát biểu) cụ thể được đo lường trên thang đo Likert 5 điểm thay đổi từ 1 = rất không đồng ý đến 5 = rất đồng ý. Các phát biểu này đại diện cho các thành phần tài sản thương hiệu như sau: 19 Thang đo nhận biết thương hiệu (NB) Thang đo nhận biết thương hiệu bao gồm 5 biến quan sát để hỏi người tiêu dùng về sự nhận diện thương hiệu ngân hàng qua tên gọi, logo và màu sắc đặc trưng của thương hiệu. Cụ thể như sau: NB_1. Tôi biết ngân hàng X.
Tôi có thể dễ dàng phân biệt ngân hàng X với các ngân hàng khác. Tôi có thể đọc đúng tên ngân hàng X. Tôi có thể nhận biết logo của ngân hàng X một cách nhanh chóng. Tôi có thể nhớ và nhận ra màu sắc đặc trưng của ngân hàng X.
Thang đo chất lượng cảm nhận (CL) Thang đo chất lượng cảm nhận thể hiện sự nhận thức chủ quan của khách hàng đối với chất lượng của các dịch vụ do ngân hàng cung cấp. Các yếu tố thuộc chất lượng dịch vụ nhấn mạnh đến cơ sở vật chất, con người và quá trình phục vụ chẳng hạn như cách cư xử và ăn mặc của nhân viên, cách thực hiện công việc và giải quyết sự cố, trang thiết bị, không gian giao dịch, bầu không khí làm việc, thủ tục, giá phí dịch vụ. Các phát biểu cụ thể để đo lường chất lượng cảm nhận bao gồm: CL_1. Nhân viên ngân hàng X cư xử với tôi như một quý khách hàng.
Cơ sở vật chất ngân hàng X đảm bảo an toàn trong giao dịch. Thủ tục tại ngân hàng X nhanh gọn. Giá phí dịch vụ của ngân hàng X thể hiện sự tương xứng giữa chất lượng và giá. Nhân viên ngân hàng X ăn mặc lịch sự, sáng sủa.
Nhân viên ngân hàng X nắm bắt nhanh và đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng. Nhân viên ngân hàng X giải quyết sự cố rất khéo léo. Không gian giao dịch tại ngân hàng X rất tiện nghi, thoải mái. Bầu không khí phục vụ tại ngân hàng X rất chuyên nghiệp.
Thang đo hình ảnh thương hiệu (HA) 20 Thang đo hình ảnh thương hiệu thể hiện sự liên tưởng của khách hàng đến thương hiệu ngân hàng mà họ đang sử dụng. Các hình ảnh được đề cập bao hàm sự chuyên nghiệp về dịch vụ tài chính-tiền tệ, sản phNm/dịch vụ đa dạng, sự nổi bật về quản lý, thành tích cao trong ngành, sự đáng tin cậy đối với công chúng, và sự phục vụ rộng khắp trên nhiều địa phương của đất nước. Cụ thể có 6 phát biểu dùng đo lường hình ảnh thương hiệu ngân hàng như sau: HA_1. Ngân hàng X chuyên về dịch vụ tài chính - tiền tệ.
Ngân hàng X có sản ph m/dịch vụ rất đa dạng. Ban lãnh đạo ngân hàng X giỏi quản lý. Ngân hàng X có thành tích cao trong lĩnh vực ngân hàng. Ngân hàng X rất đáng tin cậy.
Ngân hàng X có điểm giao dịch ở nhiều tỉnh thành. Thang đo lòng trung thành thương hiệu (TT) Thang đo lòng trung thành thương hiệu diễn tả sự tiếp tục sử dụng thương hiệu hiện tại trong hành động cũng như trong suy nghĩ. Thang đo này bao gồm ba phát biểu như sau: TT_1. Tôi vẫn đang sử dụng dịch vụ của ngân hàng X.
Tôi nghĩ ngay đến ngân hàng X khi có nhu cầu khác về tài chính – tiền tệ. Tôi sẽ sử dụng dịch vụ ngân hàng X lâu dài. Thang đo tổng quát tài sản thương hiệu (TSTH) Thang đo tổng quát tài sản thương hiệu thể hiện sự chọn lọc có lý trí và tình cảm của khách hàng dành cho thương hiệu. Đó cũng là điểm nhấn giải thích bao quát tài sản thương hiệu như là kết quả của nỗ lực marketing của doanh nghiệp nhằm xây dựng những nhận thức, hành vi tích cực của người tiêu dùng đối với một thương hiệu và giải thích giá trị vô hình vì sao người tiêu dùng chọn mua thương hiệu này mà không chọn thương hiệu khác.
Thang đo tổng quát gồm có 3 biến quan sát: 21 TSTH_1. Thật có ý nghĩa khi mua dịch vụ ngân hàng X thay cho các ngân hàng khác, dù là các ngân hàng đều như nhau. Dù các ngân hàng khác có cùng đặc điểm như ngân hàng X, tôi vẫn chọn sử dụng dịch vụ ngân hàng X. Dù các ngân hàng khác cũng tốt như ngân hàng X, tôi thích sử dụng dịch vụ ngân hàng X hơn.
Chỉ số đo tài chính phản ánh tài sản thương hiệu Có nhiều công cụ có thể dùng để đo lường kết quả tài chính của một doanh nghiệp. Các công cụ để đo lường tính sinh lợi có thể là lợi nhuận trên tài sản (ROE), lợi nhuận trên doanh số (ROS), chúng liên quan chặt đến khả năng quản lý của một doanh nghiệp hơn là mức thu nhập trực tiếp từ khách hàng hay người mua. Do đó, nghiên cứu này chỉ sử dụng thu nhập từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng như là một sự đo lường kết quả hoàn thành của doanh nghiệp nhằm kiểm tra ảnh hưởng trực tiếp của việc khách hàng sử dụng thương hiệu. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng thể hiện các khoản thu phí dịch vụ và hoa hồng như phí nhận được từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, phí từ các khoản bảo lãnh và các dịch vụ khác1.
Phần thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng không liên quan đến việc khách hàng sử dụng thương hiệu như các khoản thu từ đầu tư vào chứng khoán, vàng hay bất động sản không được tính đến trong nghiên cứu này. Thông tin về thu nhập từ các hoạt động dịch vụ trong hai năm gần nhất (2007-2008) được thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của sáu ngân hàng cho năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 12. Các báo cáo tài chính này được đăng tải trên website của các ngân hàng tham gia trong trong mẫu nghiên cứu (xem Tài liệu tham khảo, mục địa chỉ website, trang 59).2 Tính đáng tin cậy và giá trị hiệu dụng của thang đo Ngoài trừ các dữ liệu về nhân khNu học của người tiêu dùng được đo lường bằng thang đo định danh, mỗi biến quan sát trong phân tích của nghiên cứu này đều 1 Phí từ khoản bảo lãnh được ghi nhận theo phương pháp trích trước. Phí hoa hồng nhận được từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ và các dịch vụ khác được ghi nhận khi thực nhận.
22 dùng thang đo quãng với 5 khoảng chọn lựa. Điều kiện quan trọng nhất của một thang đo lường thích hợp đó là giá trị hiệu dụng. Nghĩa là thang đo được thiết kế phải đo được những gì mà nó định đo. Một điều quan trọng khác đó là thang đo lường phải nhất quán, nghĩa là khi nó được lặp lại thì sẽ dẫn đến cùng một kết quả.
Sự nhất quán này được gọi là tính đáng tin cậy. Trước khi thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm, tính đánh tin cậy và giá trị hiệu dụng của thang đo cần phải được đánh giá để đảm bảo rằng các biến quan sát sử dụng trong mô hình là thích hợp. Phép phân tích nhân tố và tính tin cậy được sử dụng để đánh giá sự nhất quán nội tại của mỗi khái niệm nghiên cứu. Đầu tiên, phép phân tích nhân tố của mỗi khái niệm nghiên cứu gồm Nhận biết thương hiệu, Chất lượng cảm nhận, Hình ảnh thương hiệu, Lòng trung thành thương hiệu và Tài sản thương hiệu tổng thể được xem xét để cung cấp bằng chứng về giá trị phân biệt và giá trị hội tụ của thang đo.
Giá trị phân biệt mô tả mức độ mà một thang đo (biến quan sát) không giống với những thang đo (biến quan sát) khác mà về mặt lý thuyết chúng không nên giống nhau. Giá trị phân biệt được đánh giá bằng cách xem xét ma trận tương quan giữa các biến độc lập và phụ thuộc và chọn ra những biến mà hệ số tương quan giữa chúng thấp. Một hệ số tương quan tuyệt đối lớn (0,85) chỉ ra một hiện tượng đa cộng tuyến, nghĩa là các khái niệm nghiên cứu trùng lắp với nhau và có thể chúng đang đo lường cùng một thứ (John và Benet-Martinez, 2000). Vì thế hệ số tương quan của các khái niệm nghiên cứu trong đề tài này nên nhỏ hơn 0,85 để đạt được yêu cầu về giá trị phân biệt.
Mức độ thích hợp của tương quan nội tại giữa các biến quan sát trong các khái niệm nghiên cứu được thể hiện bằng hệ số Kaiser- Myer- Olkin (KMO) đo lường sự thích hợp của mẫu và mức ý nghĩa đáng kể của kiểm định Barlett’s. Sự rút trích các nhân tố đại diện bằng các biến quan sát được thực hiện bằng phân tích nhân tố chính với phép quay Varimax. Các thành phần với giá trị Eigen lớn hơn và tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 0,50 được xem như những nhân tố đại diện các biến. Thứ hai, các thang đo khoảng đại diện cho các khái niệm nghiên cứu trong dự án nghiên cứu này được đánh giá bằng phương pháp truyền thống (nghĩa là sử dụng các trị trung bình và độ lệch chuNn trong thống kê mô tả).
Phương pháp nhất quán nội tại sử dụng hệ số Cronbach’s alpha để thể hiện tính đáng tin cậy của thang đo khi hệ số alpha lớn hơn 0,7 (Nunnally và Berstein, 23 1994). Nếu tất cả các hệ số tải nhân tố lớn hơn hệ số quy ước 0,50, thì các khái niệm nghiên cứu đạt giá trị hội tụ (Hair & ctg, 2006). Như vậy, tất cả hệ số Cronbach’s alpha trong nghiên cứu này nếu lớn hơn 0,7 thì sẽ được chấp nhận. Những nhân tố không đáp ứng điều kiện Cronbach’s alpha, hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5 và các tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại bỏ đối với các phân tích xa hơn.3 Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin Cuộc khảo sát định lượng được tiến hành ở TP.
HCM, đối tượng được khảo sát là những người tiêu dùng cá nhân của sáu ngân hàng Thương mại Cổ phần tiêu biểu ở TP. Nhằm thỏa mãn yêu cầu về dữ liệu của phân tích định lượng, một biến trong bản câu hỏi đòi hỏi tương ứng 5 đáp viên.