Chương 1. Cơ sở l? luận về phát triển dịch vụ tại các Trung tâm dịch vụ việc làm công. Thực trạng phát triển dịch vụ tại các Trung tâm dịch vụ việc làm công trên địa bàn thành phố Thanh Hóa. Giải pháp đẩy mạnh phát triển dịch vụ tại các Trung tâm dịch vụ việc làm công trên địa bàn thành phố Thanh Hóa.
11 CƠ SỞ L? LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM CÔNG 1. C?c kh?i niệm cơ bản 1. Ph?t triển Mỗi góc độ nghiên cứu phát triển được hiểu một cách khác nhau mang tính khá đa chiều. Phát triển là quá tr?nh lớn lên, sự tăng tiến mọi lĩnh vực, đó là sự thỏa m?n các thành tố sự tăng lên cả về chất và lượng thay đổi về thể chế, chủng loại, tổ chức, thay đổi về thị trường và giữa công bằng x? hội, an ninh trật tự [45, page.
Nghiên cứu ở phạm trù triết học, “phát triển” được dùng để chỉ quá tr?nh vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật. Với quan điểm này, sự phát triển là kết quả của quá tr?nh thay đổi dần dần về mặt lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá tr?nh diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn [15, tr. Xét về mặt x? hội hay hệ thống kinh tế x? hội, “phát triển” thường có nghĩa là cải thiện trong cả một hệ thống hay trong một số yếu tố thành phần. “Phát triển” là một khái niệm đa chiều, bởi v? bất kỳ một cải thiện nào của hệ thống phức tạp, như hệ thống kinh tế x? hội, có thể xảy ra ở các bộ phận khác nhau với các cách và tốc độ khác nhau, được thúc đẩy bởi các lực lượng khác nhau.
Ngoài ra sự phát triển của một phần trong hệ thống có thể tạo ra sự bất lợi đến sự phát triển của các bộ phận khác, dẫn đến những xung đột. Do vậy, đo lường sự phát triển tức là phải xác định, sự phát triển cho dù ở mức độ nào cũng phải được xem xét dưới nhiều góc độ [28]. Từ đó tác giả cho rằng, phát triển là sự tăng về lượng và tăng lên về chất, hướng tới bền vững. Dịch vụ, việc l?m v? dịch vụ việc l?m 12 Dịch vụ Theo Luật giá năm 2013, Dịch vụ là hàng hóa có tính vô h?nh, quá tr?nh sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật [24].
Theo Từ điển Tiếng Việt, Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [19, tr. Vậy có thể thấy, với các đặc trưng của dịch vụ là: (1) Tính vô h?nh; Được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ l? hóa của dịch vụ. (2) Tính không thể tách rời; Dịch vụ thường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác với hàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu dùng cuối cùng. (4) Tính không thể cất trữ; Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô h?nh và không thể tách rời.
Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường th? đem ra bán. (5) Tính không chuyển quyền sở hữu được; Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá m?nh đ? mua.
Khi mua DV th? khách hàng chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Việc làm 13 Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, có rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất x? hội đều chiếm những vị trí nhất định. Mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất x? hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá tr?nh sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm.
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất x? hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của x? hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá tr?nh lao động tạo ra sản phẩm cho x? hội, cho bản thân. Một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm: Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đ?nh, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận.
Trên thực tế, việc làm được thừa nhận dưới 3 h?nh thức: (1) Làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó; (2) Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó; (3) Làm các công việc cho hộ gia đ?nh m?nh nhưng không được trả thù lao dưới h?nh thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. H?nh thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đ?nh có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản l? [25, tr. Trên thế giới, quan niệm về việc làm được đưa ra dưới nhiều góc độ, với những phạm vi rộng, hẹp khác nhau.Asuda (Nhật Bản) cho rằng “việc làm là những tác động của người lao động vào vật chất sinh ra lợi nhuận”. Cố vấn Văn ph?ng lao động Quốc tế Giăng Mutê đưa ra quan điểm: “Việc làm như một t?nh trạng, trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [20, tr.
Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đ? được quy định tại Điều 13 của Bộ luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp 14 luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”, đây cũng là quan điểm tác giả trong nghiên cứu này [22]. Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại [25, tr. Thứ nhất, theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ. Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác.
Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. Thứ hai, chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm. Việc làm toàn thời gian, chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần. Việc làm bán thời gian, mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần.
Thời gian làm việc có thể dao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục. Việc làm thêm, mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định. Ngoài ra, trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) c?n khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững. Dịch vụ việc làm Trên phạm vi ở mỗi quốc gia trên thế giới, các quan điểm về DVVL được hiểu ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau.
Tại Cộng h?a Liên bang Đức, DVVL được hiểu là các phương thức được sử dụng nhằm mục đích giảm tỷ lệ thất nghiệp, bằng cách sử dụng các cách tạo ra việc làm dưới sự hỗ trợ tăng kiến thức nghề nghiệp, tạo cơ hội tốt cho người lao động có việc làm, chuẩn bị tạo điều kiện nhằm bổ sung, hoàn thiện các biện pháp tác động hướng tới sự thay đổi cơ cấu TTLĐ theo chiều hướng có lợi; giảm sự mất cân bằng có tính chất khu vực ở TTLĐ. Các hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm giúp đào tạo nâng 15 cao và đào tạo lại cho NLĐ; tư vấn GTVL, tổ chức và thực hiện nhiệm vụ bảo hiểm thất nghiệp. Ở Cộng h?a Pháp, DVVL lại được xem xét là các hoạt động khá đa dạng để can thiệp giúp đỡ người lao động đang thất nghiệp có khả năng tiếp cận và có việc làm như hỗ trợ, đào tạo hoặc tư vấn nghề. Quá tr?nh trợ giúp đó từ các cơ sở DVVL gồm: thông tin nghề nghiệp, trợ giúp hướng nghiệp, trợ giúp t?m kiếm việc làm, trợ giúp đánh giá và trợ giúp cho những người có nguyện vọng thành lập doanh nghiệp [34].
Ở Việt Nam, Theo điều 36 chương 5 của Luật việc làm năm 2013: “Dịch vụ việc làm bao gồm: tư vấn, GTVL, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động”. Cũng theo điều này “Tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm” [23]. Như vậy, có thể thấy DVVL là toàn bộ các hoạt động với mục đích để kết nối cung - cầu lao động trên thị trường lao động hoặc tư vấn, trợ giúp để người lao động có thể tự tạo việc làm. Các hoạt động kết nối cung - cầu lao động chủ yếu hiện nay gồm: Thứ nhất; Hoạt động tư vấn, GTVL cho người lao động; Bao gồm 2 hoạt động: (1) là quá tr?nh mà các cơ sở DVVL có những thông tin về chỗ làm việc trống sẽ giới thiệu cho người lao động cần tuyển dụng đến địa chỉ của người sử dụng lao động nhằm t?m hiểu, có thể đi đến thoả thuận về việc làm.
(2) Các trung tâm DVVL có thông tin về người tuyển dụng sẽ giới thiệu cho người sử dụng lao động hướng đến thoả thuận tuyển dụng [28, tr.