phần mở đầu , kết luận và tài liệu tham khảo chuyên đề gồm 3 chương : Chương | : Một số vấn đề cơ bản về phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ kiều hối của NHTM. Chương 2 : Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ kiều hồi tại NHNN&PTNT chi nhánh Thanh Chương. Chương3 : Đề xuất giải pháp cải thiện và nâng cao kết quả kinh doanh dịch vụ kiều hối của NHNN&PTNT chi nhánh Thanh Chương. MOT SO VAN ĐÈ CƠ BẢN VE PHÁT TRIEN HOAT DONG KINH DOANH DICH VU KIEU HOI CUA NHTM.1 Những vấn dé chung về kiều hối 1.1 Lịch sử ra đời của kiều hối Sự ra đời của kiều hồi gắn liền với sự di cư và dịch chuyển lao động của mỗi quốc gia.
Xu hướng dịch chuyên lao động xuất hiện trong thời kỳ các nước tư bản xâm chiếm các quốc gia khu vực châu Phi, chau A. Người dân An Độ đã phải tham gia khai thác mỏ, khoáng sản tại các quốc gia thuộc địa khác và người Việt Nam thì bị đưa sang các nước thuộc địa của Pháp dé làm các công việc chân tay. Còn ngày nay, các quốc gia như Nhật Bản đối mặt với tình trạng dân số già, thiếu hụt lực lượng lao động trong độ tuôi. Một số quốc gia phát triển khác, tuy không đối mặt với dân số già nhưng với nguồn ngân sách dồi dào kết hợp với những bat lợi về môi trường làm việc , họ sẵn sàng thuê nhân công nước ngoài đến làm việc do lực lượng lao động trong nước không sẵn lòng thực hiện những công việc chân tay như các nước ở khu vực Trung Đông.
Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa và di chuyền tự do lao động cũng tạo ra xu hướng dịch chuyên lao động chất lượng cao sang nơi có điều kiện tốt về thu nhập, chủ yếu tại các quốc gia phát triển. Nếu như xu hướng dịch chuyên lao động từ nơi thừa lao động sang nơi thiếu lao động chủ yếu do động lực về thu nhập, xu hướng di cư thường xảy ra bao gồm các nguyên nhân về bat ồn tại quốc gia sinh sống. Một là, do hậu quả của chiến tranh, những bắt ôn chính trị và/hoặc thiên tai trong chính các quốc gia có người phải di cư. Người di cư thường bằng cách chính thức hoặc phi chính thức sang các quốc gia có tình hình an ninh, chính trị 6n định hoặc dé cap phép nhập cư dé thoát khỏi cuộc sông đang bị rủi ro hiện tại.
Hai là, di cư xã hội là dạng di cư có xu hướng ngảy cảng gia tăng hiện nay. Bên cạnh di cư theo diện doan tụ gia đình, một dạng của di cư xã hội chính là việc các kết hôn với người nước ngoài. Việt Nam trong 10 năm qua đã chứng kiến số lượng cô dâu lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan tăng lên đáng ké. Cũng giống như những người lao động xuất khâu, những người di cư cũng đóng góp vào kiều hối khi gửi tiền về quốc gia gốc cho người thân, bạn bè.
Và do đó, yếu tố tình cảm, trách nhiệm với gia đình thường là lý do chủ yếu mà những người di cư gửi tiên kiêu hôi.2 Khái niệm về kiều hối Xét theo ngôn ngữ học , kiều hối xuất phát từ Hán Việt , được tạo thành từ hai bộ phận là chữ “kiều” va chữ “hối”. Trong đó , chữ “kiều” được hiểu là người ` Aly? đi ở nhờ ở vùng khác , theo một cách dé hiểu hơn thì là những người đang sinh sống hay làm việc ở một vùng khác không phải là nơi sinh ra và lớn lên. Còn chữ “hối” được hiểu là tiền và tiền này là tiền chuyền về. Như vậy , kiều hối hiểu một cách nôm na là chỉ những khoản tiền mà những “người đi ở nhờ nhà người khác” chuyên về quê hương.
Theo Puzi & Ritzema (1999), “ Hiểu một cách đơn giản thì kiều hối được định nghĩa là phần thu nhập của người lao động ở nước ngoài gửi về nước”. Mặc dù , khái niệm này mới chỉ cho thấy biểu hiện chủ yếu của kiều hối , chưa thật sự bao quát toàn bộ nguôn kiều hối bởi chưa bao gồm các trường hợp các thế hệ sau của những người di cư chuyển tiền về quốc gia nguyên xứ và khả năng người sử dụng tiền vay chuyên về ( rút tiền từ thẻ tín dụng ). Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF 2009 ) kiều hối lại được hiểu theo nghĩa sau : “Kiều hồi là hàng hóa và các công cụ tài chính do người lao động sống và làm việc ở nước ngoài từ một năm trở lên chuyền về đất nước ho”. Có thé thay theo khái niệm này , những đối tượng có thời hạn quá 1 năm nhưng không được tính là đối tượng không cư trú bao gồm du học sinh và cả những người đi chữa bệnh ở nước ngoài.
Các đối tượng này khi chuyền tiền về nước lại không tính vào khoản mục chuyền tiền một chiều. Ngoài ra nếu quy chiếu theo định nghĩa này thì tiền gửi về nước của những người đang công tác tại Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài hay 10 của người Việt Nam tại các tổ chức quốc gia như IMF hay Worldbank cũng không tính vào nguôn kiêu hôi. Theo WorldBank : “Kiêu hôi bao gôm các khoản tiên chuyên từ nước ngoài có nguôn gôc là thu nhập của người lao động, dân di cư ở nước ngoai, được thê hiện qua cán cân thanh toán quôc tê là khoản chuyên tiên”. Khái niệm về kiều hối có nhiều cách hiểu và vận dụng đối với từng khu vực và lãnh thé.
Đối với Việt Nam, theo quyết định 170/1999/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày 19/08/1999 có giải thích về kiều hối như sau: “Kiều hối là các loại ngoại tệ tự do chuyên đôi được chuyền vào Việt Nam theo các hình thức sau: -Chuyên ngoại tệ thông qua các tổ chức tín dụng được phép. -Chuyên ngoại tệ thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quôc tê. -Cá nhân mang ngoại tệ theo người vào Việt Nam. Cá nhân ở nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam có mang theo ngoại tệ hộ cho người Việt Nam ở nước ngoài phải kê khai với Hải quan cửa khâu sô ngoại tệ mang từ nước ngoài vê cho người thụ hưởng ở trong nước”.3 Những hình thức chuyển kiều hối phố biến Kiều hối gửi về Việt Nam ngày càng rộng mở và phát triển không chỉ về quy mô mà cả số lượng.
Việc kiều hối chuyên về nước tăng không chỉ giúp cho nền kinh tế tăng trưởng bên cạnh đó góp phần đáng kể vào việc bù đắp thâm hụt cán cân thương mại , cải thiện cán cân thanh toán quốc tế , ôn định và tăng trưởng cung ngoại tệ cho ngân hàng. Thực tế kiều hối gửi về Việt Nam chủ yếu là cá nhân gửi cho gia đình , số lượng kiều hồi gửi theo nhóm chưa thật sự phô biến .Nhìn từ bên trung gian nguồn kiều hồi gửi vào Việt Nam có thể chuyên qua hai kênh : Kênh chính thức và phi chính thức. 11 Kênh chuyên tiền chính thức bao gồm : - Chuyén tiền qua hệ thống ngân hang - _ Chuyên tiền qua các công ty chuyên tiền quốc tế như các công ty chuyền tiền kiều hối thành lập bởi các TCTD, Công ty chuyền tiền tư nhân , Công ty bưu chính ( Thuộc Tập đoàn bưu chính viễn thông ). - Kiéu bào mang ngoại tệ trực tiép có khai báo với cơ quan hải quan ( Trên 5.
Kênh chuyền tiền phi chính thức chủ yếu : - _ Tổ chức hay cá nhân cung cấp dịch vụ kiều hồi nhưng chưa đăng ký và chưa được cấp giấy phép. - _ Chuyên tiền qua đại ly. - Chuyén tiền qua cửa khâu nhưng không khai báo với cơ quan hải quan .4 Kiều hối và những tác động đến nền kinh tế Việt Nam 1.1 Những tác động tích cực Kiều hối có vai trò rất quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, kiều hối là một trong những nguồn lực quan trọng dé phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế trong nước còn gặp nhiều khó khăn.
Cùng với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FD, kiều hối chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các nguồn vốn từ bên ngoài vào Việt Nam và có xu hướng tăng lên qua các năm. So với các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kiều hối vào Việt Nam luôn có giá trị lớn và có tính ồn định cao hơn, thê hiện rõ tinh ưu việt trong phát triển kinh tế ở Việt Nam trên các mặt sau: Một là , kiêu hôi là nguôn thu ngoại tệ ôn định, tăng dự trữ ngoại hôi cua quôc gia , mang tính một chiêu , giảm thiêu sự phụ thuộc vôn nước ngoài, giúp ôn định tỷ giá và góp phan tạo ra nguồn vốn cho dau tư phát triển kinh tế nhưng không 12 tại gánh nặng nợ nước ngoài cho nền kinh tế. Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác thường bị thâm hụt tài khoản vãng lai. Kiều hối chảy về đã bù đắp cho sự căng thang trên thị trường ngoại hồi và thúc đây cán cân thanh toán quốc tế.
Với tính chất là nguồn thu một chiều và ồn định , kiều hối cũng là một nguồn vốn ồn định cho sự phát triển kinh tế , không gây áp lực trả nợ cho nước ngoài , giúp đất nước giảm thiểu nhiều rủi ro cho quá trình huy động vốn , giảm sự phụ thuộc vào vôn nước ngoài. Hai là , Kiều hồi đóng vai trò quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo , nâng cao đời sống người dân. So với xuất khâu , du lich là lĩnh vực tạo ra nguồn thu ngoại tệ đáng ké từ trước đến nay , nếu xuất khẩu hay du lịch phải đầu tư nhiều mới thu về nhiều ngoại tệ với kiều hối thì nguồn thu từ kiều hối đường như không phải là đầu tư , đầu tư ít so với lợi ích mang lại. Nguồn thu này thúc đây đầu tư tư nhân , đầu tư bat động san , giải quyết công ăn việc làm , nâng cao thu nhập nâng cao mức sống cho chủ thê nhận tiền và cả những chủ thể hưởng lợi từ nguồn đầu tư liên quan.
Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn hay chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế nguồn tiền này sẽ đóng góp vai trò rất lớn trong việc duy trì sức sống nền kinh tế .