Chương 1. Cơ sở l luận về phát triển dịch vụ giáo dục mầm non; Chương 2. Thực trạng phát triển dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn ; Chương 3. giải pháp phát triển dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ở Việt Nam, thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực GDMN. Những công trình khoa học nghiên cứu về tâm sinh lí, tâm lí học xã hội đều khẳng định: Sự phát triển của trẻ từ 0 tuổi đến 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính chất quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai. Trẻ được tiếp cận với giáo dục mầm non càng sớm càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển của các giai đoạn tiếp theo. Hiện nay, các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng đã xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục ngoài công lập nói chung và hệ thống giáo dục mầm non ngoài công lập nói riêng.
Có thể khẳng định rằng, việc phát triển dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập sẽ Luan van 6 góp phần giảm được áp lực quá tải cho hệ thống trường mầm non công lập, đồng thời tranh thủ được nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân để đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại, thu hút đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí chất lượng cao… thúc đẩy nhanh quá trình hợp tác quốc tế, đa dạng hóa các sản phẩm hỗ trợ giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng; tạo môi trường cạnh tranh nâng cao chất lượng giáo dục; ưu tiên ngân sách cho các địa phương, vùng khó khăn, rút ngắn khoảng cách về điều kiện tiếp cận giáo dục. Từ đó, mở ra những cơ hội học tập cho trẻ em trong một môi trường hiện đại, thân thiện, năng động và hội nhập quốc tế. Lê Hoàng Thu Thủy (2012), Luận văn thạc sĩ kinh tế (Đại học Đà Nẵng), “Phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”. Đề tài đề cập đến phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Quy nhơn, đưa ra những lý luận cơ bản về giáo dục mầm non, phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp phát triển giáo dục mầm non trong phạm vi nghiên cứu.
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu phát triển chung và hoàn thiện hệ thống giáo dục mầm non công lập trên địa bàn thành phố Quy Nhơn. Đề tài chưa chú trọng đi sâu nghiên cứu vấn đề giáo dục mầm non ngoài công lập. Lê Thị Nam Phương (2012), Luận văn thạc sĩ kinh tế (Đại học Đà Nẵng), “Phát triển dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”. Đề tài đề cập đến việc phát triển dịch vụ giáo dục mầm non ngoài công lập trong phạm vi nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Đề tài của tác giả đã góp phần nêu bật ý nghĩa quan trọng trong công tác xã hội hóa giáo dục nói chung và giáo dục mầm non ngoài công lập nói riêng, làm căn cứ cho việc nghiên cứu lí luận chung về giáo dục mầm non ngoài công lập. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh thành, Luan van 7 mỗi địa phương có tính đặc thù riêng nên đề tài của tác giả chưa thể áp dụng vào trong thực tiễn của các địa phương khác.TSKH Phạm Minh Hạc (1999), “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thể kỷ XXI”, đã chỉ ra những thành công và khiếm khuyết không nhỏ của nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt là sự phát triển không cân xứng và thiên lệch trong cấu trúc. Sự yếu kém và thiếu thốn dịch vụ GDMN đang đặt ra nhiều thách thức lớn cho sự phát triển bền vững của giáo dục Việt Nam và sự phát triển kinh tế nước nhà trong bối cảnh kinh tế tri thức.TSKH Phạm Minh Hạc, “Đôi điều suy nghĩ về triết lý và đổi mới tư duy giáo dục trong thời kỳ đổi mới”. Bài viết đã nghiên cứu những Triết lý từ Thời cổ đại, thời Phục hưng, từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến 1945 - cuối thế kỷ XX, suy nghĩ “Tiến tới thế kỷ XXI”, tác giả đã đề xuất phát triển giáo dục nước nhà theo hướng: chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá, đa dạng hoá.
Ý tưởng này đã được đưa thành phương châm Chiến lược giáo dục 2001 – 2010 (trừ dân chủ hoá). Nhóm tác giả TS. Nguyễn Anh Dũng, PGS. Đào Thái Lai, ThS.
Bùi Đức Thiệp và TS. Nguyễn Thị Hồng Vân, “ ”. Bài viết tập trung phân tích kinh nghiệm một số nước như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Sing-ga-po, Trung Quốc. chú ý tới việc phân tích những chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tác động tới phát triển quy mô và chất lượng đội ngũ trí thức (chủ yếu là đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ) của mỗi nước, từ đó nêu ra những bài học kinh nghiệm về chính sách nhằm xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam.
Những nghiên cứu của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và một số trường đại học đã đóng góp phần cơ bản trong việc xây dựng chương trình Luan van 8 giáo dục mầm non và biên soạn các tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non; xây dựng các bộ tài liệu, học liệu phục vụ cho cô giáo và trẻ thực hiện các hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp chủ đề; xây dựng hệ thống tiêu chí để kiểm định chất lượng các trường mầm non. Nghiên cứu giáo dục mầm non vùng khó khăn, chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ mầm non ở vùng dân tộc thiểu số. Có thể nói, việc hoàn thành bộ chương trình và sách hướng dẫn giáo viên thực hiện chương trình giáo dục mầm non là thành công lớn, thực sự góp phần thực hiện Quyết định 161/2002/TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục mầm non và Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục, thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục mầm non trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010. Tuy nhiên để áp dụng thành công đại trà trên toàn quốc trong bối cảnh kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay thì chương trình giáo dục mầm non cần phải có một lộ trình, chính sách cụ thể và lâu dài.TS Bùi Quang Bình trong cuốn “Giáo trình Kinh tế phát triển” năm 2012 đã chỉ ra những vấn đề trong phát triển giáo dục ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Đó là sự phân bố mạng lưới dịch vụ giáo dục không hợp lí giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn. Trong khi đó, giáo viên giỏi có trình độ lại thường tập trung ở đồng bằng và thành thị. Ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa vừa thiếu giáo viên, nhất là giáo viên giỏi vừa thiếu thốn trong cuộc sống. Trong nghiên cứu cũng khẳng định những lợi ích to lớn mà xã hội nhận được khi phát triển các bậc giáo dục dưới trung học, đồng thời cần thiết phải có sự can thiệp từ phía chính phủ để giải quyết những vấn đề bất hợp lí trong lĩnh vực giáo dục chứ không theo cơ chế bàn tay vô hình của thị trường để giải quyết vấn đề này.
Về phía tỉnh ĐăkLăk, trên cơ sở các quyết định, thông tư, nghị định của Chính phủ; của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục mầm non, Ủy ban nhân Luan van 9 dân tỉnh cũng đã ban hành một số chính sách mang tính chiến lược trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là quy hoạch tổng thể ngành giáo dục đến năm 2020 gắn với việc xã hội hóa giáo dục ở các cấp học, bậc học nhằm phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh. Các chính sách của chính quyền chưa thực sự chú trọng đến công tác xã hội hóa giáo dục mà chủ yếu tập trung nguồn lực hạn chế của mình đầu tư, phát triển loại hình giáo dục công lập nhằm thực hiện thành công mục tiêu quốc gia về giáo dục. Điều này làm cho các cơ sở giáo dục mầm non công lập ỉ lại, trông chờ vào nguồn vốn nhà nước, trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Luan van 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC MẦM NON 1.
DỊCH VỤ GIÁO DỤC MẦM NON 1. Khái niệm dịch vụ Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau: Adam Smith từng định nghĩa rằng, “Dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công. Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra”.
Từ định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh “không tồn trữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời. Mác cho rằng : “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”. Với định nghĩa này, C. Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh.
Giáo sư Philip Kotler định nghĩa: “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”. Luan van 11 Ngày nay vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được nhận thức rõ hơn. Có một định nghĩa rất hình tượng nhưng cũng rất nổi tiếng về dịch vụ hiện nay, mà trong đó dịch vụ được mô tả là bất cứ thứ gì bạn có thể mua và bán nhưng không thể đánh rơi nó xuống dưới chân bạn.