MỞ ĐẦU 1 Tín ấp t ết ủ đề tà Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, giáo dục mầm non là bƣớc khởi đầu cho sự học, là cấp học tiền đề định hƣớng các hành vi, phẩm chất cơ bản của trẻ em. Những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ, bởi tuy trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu kiến thức, não bộ đã đƣợc lập trình để tiếp nhận các thông tin, tác động bên ngoài và từ đó sử dụng nó hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới xung quanh. Tuy nhiên, thiên hƣớng học tập của trẻ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố nhƣ thể chất, nhận thức và tình cảm xã hội. Việc đƣợc hƣởng sự chăm sóc và phát triển tốt từ lứa tuổi này sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tƣơng lai của trẻ.
Trẻ đƣợc tiếp cận với giáo dục mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển của các cấp học tiếp theo. Những kỹ năng mà trẻ đƣợc tiếp thu qua chƣơng trình chăm sóc giáo dục mầm non tại ngôi trƣờng sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ.Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền địa phƣơng, của các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội. Các công trình nghiên cứu khoa học về sinh lý, tâm lý học xã hội đều khẳng định rằng: sự phát triển của trẻ từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính chất tiền đề, ảnh hƣởng mạnh mẽ để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tƣơng lai. Các nghiên cứu định lƣợng ở Mỹ và Liên minh Châu Âu cho rằng việc đầu tƣ cho giáo dục mẫu giáo vừa đạt hiệu quả cao nhất, vừa giải quyết tốt nhất vấn đề công bằng xã hội.
Vì vậy, hiện nay ở phần lớn các nƣớc Châu Âu, giai đoạn giáo dục bắt buộc đã kéo dài thêm một năm, đó là năm mẫu giáo trƣớc khi vào tiểu học. Luan van 2 Quảng Bình là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ còn nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế xã hội, vì vậy việc đẩy mạnh phát triển giáo dục mầm non còn nhiều thiếu sót. Tuy nhiên, với vai trò quan trọng của phát triển giáo dục mầm non, phát triển thế hệ tƣơng lai của tỉnh trong giai đoạn vừa qua đã và đang đƣợc chú trọng và đã đạt đƣợc một số thành quả nhất định. Tuy vậy, hệ thống giáo dục mầm non của tỉnh vẫn còn những khoảng trống cần phải lấp đầy.
Phần lớn các trƣờng công lập đã quá tải không đáp ứng đƣợc nhu cầu. Các trƣờng ngoài công lập còn nhỏ về quy mô, có diện tích chật hẹp, quá tải, chất lƣợng giáo dục không đồng đều giữa các trƣờng, số lƣợng trẻ em không đƣợc tới trƣờng mầm non vẫn còn nhiều nhất là con em nhà nghèo, học phí khá cao, giáo viên có chất lƣợng khác nhau giữa các trƣờng…Do đó một nghiên cứu về “Phát triển giáo dục Mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Bình " là rất cần thiết. 2 Mụ t êu n ên ứu 2. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Từ việc nghiên cứu các lý thuyết liên quan đến phát triển giáo dục mầm non và đánh giá thực trạng phát triển giáo dục mầm non trong thời gian qua để đề xuất một số kiến nghị, giải pháp phát triển trong thời gian tới.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Khái quát đƣợc lý luận về phát triển giáo dục làm cơ sở cho nghiên cứu; - Đánh giá đƣợc thực trạng phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; - Kiến nghị đƣợc các giải pháp để phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; 3 Câu ỏ n ên ứu - Tình hình phát triển giáo dục Mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Luan van 3 đang diễn ra nhƣ thế nào? - Làm thế nào để thúc đẩy sự phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới. 4 P ạm v và đố tƣợn n ên ứu - Đối tƣợng của nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến Phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. - Phạm vi: + Nội dung: chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển giáo dục mầm non; + Không gian: đề tài nghiên cứu các nội dung trên địa bàn tỉnh Quảng Bình + Thời gian: đề tài nghiên cứu số liệu thu thập từ 2010 đến nay 5 P ƣơn p áp n ên ứu Đề tài sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau trong nghiên cứu do tính phức tạp của đề tài. - Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu tình hình kinh tế xã hội, số liệu về giáo dục mầm non của tỉnh Quảng Bình; - Phương pháp phân tích: + Phân tích định tính thông qua lý thuyết cơ bản về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu.
+ Phân tích định lƣợng thông qua bộ số liệu thu thập. - Phân tích thống kê gồm nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣng trong nghiên cứu này sẽ sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phân tổ thống kê, phƣơng pháp đồ thị thống kê, phƣơng pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian và phƣơng pháp phân tích tƣơng quan. - Phương pháp tổng hợp và khái quát hoá đƣợc sử dụng để tổng hợp và khái quát kết quả của các phƣơng pháp phân tích thống kê Luan van 4 6 Tổn qu n tà l ệu n ên ứu Giáo dục nói chung có vai trò rất quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực, tạo ra và tích lũy vốn con ngƣời của mỗi quốc gia để thúc đẩy phát triển kinh tế. Phát triển giáo dục vì thế đƣợc chú trọng bởi hầu nhƣ tất cả chính phủ của các nƣớc.
Nhiều nghiên cứu khác nhau trên nhiều khía cạnh khác nhau về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng đã đƣợc tiến hành để chỉ ra những vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục, các bài học kinh nghiệm về phát triển giáo dục. Bùi Quang Bình (2010), Kinh tế Phát triển, NXB Giáo Dục. Tác giả đã khẳng định những lợi ích to lớn mà xã hội nhận đƣợc khi phát triển các bậc giáo dục dƣới trung học. Tác giả cũng chỉ ra những vấn đề trong phát triển giáo dục ở các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Đó là thiếu công bằng và hiệu năng. Thiếu công bằng khi phân bố không hợp lý và thiếu hiệu năng do giáo viên giỏi có trình độ thƣờng tập trung ở đồng bằng và thành thị. Ở nông thôn và vùng sâu vùng xa vừa thiếu giáo viên nhất là giáo viên giỏi, cuộc sống và sự đãi ngộ rất thấp. Trong nghiên cứu đã khẳng định cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ mạnh mẽ chứ không theo cơ chế bàn tay vô hình của thị trƣờng thì mới giải quyết đƣợc vấn đề này.
Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng, Nghị quyết số 04-NQ/HNTW, “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”, đã xác định bốn quan điểm chỉ đạo đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đó là: (i) Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nƣớc; (ii) Cần phải coi đầu tƣ cho giáo dục là một hƣớng chính của đầu tƣ phát triển…, phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, đào tạo những con ngƣời có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp. (iii) Phải mở rộng quy mô, Luan van 5 đồng thời chú trọng nâng cao chất lƣợng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức; (iv) Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nƣớc, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Từ đây, đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ để phát triển con ngƣời, phát triển sản xuất, từ đó phát triển xã hội.
Đến Đại hội VIII, về giáo dục và đào tạo, Nghị quyết nhấn mạnh với những nội dung chủ yếu: cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài. Trong đó, cần coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lƣợng và phát huy hiệu quả trong phát triển giáo dục. Trần Việt Lƣu (2011), Một số vấn đề về giáo dục mầm non, Tạp chí Tuyên giáo số 1 ngày 26/05/2011. Có ý kiến cho rằng: “Giáo dục mầm non không phải là dạy trẻ thơ đọc chữ, học kiến thức khoa học; đây là loại hình giáo dục đặc biệt là sự chuẩn bị cho trẻ thơ những tiền đề quan trọng trƣớc khi bƣớc vào giáo dục nhà trƣờng.
Thông qua sự chăm sóc ân cần, đúng phƣơng pháp khoa học, phù hợp với sự phát triển tâm - sinh lý của trẻ, để nuôi dƣỡng thể chất và tâm hồn cho trẻ”. Các yếu tố có ảnh hƣởng sâu sắc tới chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ thơ bao gồm: các chính sách vĩ mô, sự vận dụng và thực hiện các kiến thức về ngành học của đội ngũ giáo viên mầm non và cán bộ quản lý, kiến thức khoa học và sự nổ lực của những ngƣời công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non. Những yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, cùng hƣớng tới mục tiêu giúp cho trẻ thơ thực sự hƣởng thụ những thành quả tốt nhất của xã hội, đảm bảo sự phát triển tổng thể và toàn diện của trẻ, giúp trẻ có đủ hành trang bƣớc vào một cấp học hoàn toàn mới. Phạm Minh Hạc và nhóm tác giả (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ 21, NXB Chính Trị Quốc gia.
Nghiên cứu này đã trình bày xu thế phát triển giáo dục trên thế giới, tổng kết kinh nghiệm cải cách giáo dục của thế Luan van 6 giới, kinh nghiệm xã hội hóa giáo dục, quản lý giáo dục của một số nƣớc trên thế giới nhƣ Pháp, Đức, Hoa Kỳ…Tuy chỉ tập trung vào những vấn đề giáo dục chung nhƣng nghiên cứu vẫn có giá trị lớn để phát triển mở rộng hƣớng nghiên cứu cho phát triển giáo dục mầm non nhất là kinh nghiệm về xã hội hóa giáo dục hay quản lý giáo dục.