Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH, 7 THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG 1. Các khái niệm liên quan và vai trò của thực hiện chính sách phát triển đội ngũ giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Các khái niệm có liên quan - Khái niệm chính sách “Chính sách” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phương tiện truyền thông và trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là thuật ngữ còn được nhiều học giả nghiên cứu và tiếp cận ở các góc độ khác nhau.
Cách tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý thì chính sách được hiểu là: Bất cứ hoạt động nào của tập thể hoặc cá nhân có ý thức hay của một xã hội đều hướng tới thực hiện một hay nhiều mục tiêu cụ thể nào đó. Mỗi cá nhân, tổ chức, xã hội phải có một chuỗi các chương trình hay một tập hợp các nguyên tắc hành động định trước để hướng dẫn thực hiện, gọi chung là chính sách. Theo từ điển tiếng Việt: “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” và “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân” [30, tr. Như vậy, phân tích các khái niệm cho thấy: Chính sách do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị và tình hình thực tế; được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng.
Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác 8 định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể [15, tr.
Trên cơ sở tham khảo các cách tiếp cận khác nhau về chính sách, có thể hiểu: Chính sách là sự truyền đạt ý định của người ra quyết định theo một ý nghĩa thông thường, hướng người thực hiện vào những hành động cụ thể của một vấn đề nào đó để đạt mục tiêu dự kiến. Chính sách là những hành động ứng xử của một chủ thể quyền lực đặt ra, trong đó có sự đối đãi một hoặc một nhóm xã hội, kích thích vào một động cơ và định hướng hoạt động của họ nhằm mục đích tạo động lực cho việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ mà nhà quản lý đặt ra phù hợp với chiến lược phát triển chung của xã hội. - Khái niệm chính sách công Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” được gọi là chính sách công. Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết.
Theo William Jenkin: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” [19, tr. Định nghĩa này nhấn mạnh các mặt sau: Chính sách công không phải là một quyết định đơn lẻ nào đó, mà là một tập hợp các quyết định khác nhau có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài; chính sách công do các nhà chính trị trong bộ máy nhà nước ban hành. Thomas Dye đưa ra một định nghĩa khá súc tích về chính sách công như sau: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [11, tr. Định nghĩa này khá cô đọng, tuy nhiên định nghĩa đã chỉ ra những dấu hiệu nhận biết nhất định về chính sách công.
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước. Điều này có nghĩa là các quyết định của các doanh nhân, các tổ chức từ thiện, các nhóm lợi ích, các cá nhân trong xã hội không phải là chính sách công. Thứ hai, chính sách công bao gồm sự lựa chọn cơ bản từ phía nhà nước theo hướng làm 9 hoặc không làm gì. Quyết định này được cán bộ, công chức nhà nước và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Từ nghiên cứu những cách tiếp cận trên đây về chính sách công của các tác giả, có thể đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội. - Khái niệm giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giữ vai trò quan trọng, mang nét riêng của sự nghiệp giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng của Đảng và Nhà nước ta. Tiêu chuẩn và nhiệm vụ của giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quy định tại Quy chế giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Ban hành kèm theo Quyết định số 1855/QĐ- HVCTQG ngày 21 tháng 4 năm 2016 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). + Về tiêu chuẩn của giảng viên: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hai là, có trình độ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hoặc khoa học xã hội và nhân văn ở bậc đại học trở lên, hệ tập trung. Ba là, có thái độ trung thực, khiêm tốn, giản dị; tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước. Bốn là, có khả năng và nghiệp vụ sư phạm. Năm là, có đủ sức khoẻ hoàn thành nhiệm vụ.
Sáu là, lý lịch bản thân rõ ràng. + Về nhiệm vụ của giảng viên: 10 Một là, giảng dạy các chương trình đào tạo, bồi dưỡng do trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đảm nhận. Hai là, tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập; góp phần phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội ở địa phương, phát triển lý luận; đấu tranh chống những luận điểm sai trái, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Ba là, học tập nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; rèn luyện đạo đức, tác phong sư phạm.
Bốn là, giảng viên phải đi thực tế tại cơ sở. Năm là, tham gia các công tác khác do nhà trường phân công. - Khái niệm đội ngũ giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc không cùng một nghề nghiệp nhưng cùng có chung một mục đích nhất định Hiểu theo nghĩa rộng: Đội ngũ giảng viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội.
Hiểu theo nghĩa hẹp: Đội ngũ giảng viên là những người làm nhiệm vụ giảng dạy và quản lý giáo dục trong các trường đại học, cao đẳng, bồi dưỡng cán bộ. Đội ngũ giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là một tập hợp bao gồm những giảng viên giảng dạy và cùng thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục được đặt ra tại các trường chính trị của tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. 11 - Khái niệm phát triển đội ngũ giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Theo từ điển tiếng Việt khái niệm phát triển được hiểu là: “Biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [30, tr. Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội có sự gia tăng về lượng, biến đổi về chất, làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên trong mối quan hệ bổ sung cho nhau tạo nên giá trị mới trong một thể thống nhất đều có thể coi là phát triển.
Thuật ngữ “phát triển đội ngũ giảng viên” được hiểu là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của đội ngũ giảng viên trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô, số lượng và chất lượng giảng viên. Đó là sự tiến bộ về nhận thức, học vấn, khả năng chuyên môn đạt đến chuẩn và trên chuẩn của yêu cầu, tiêu chí dành cho đội ngũ giảng viên. Phát triển đội ngũ giảng viên trước hết phải tạo ra một đội ngũ (một tổ chức) các nhà giáo, từ đó phát triển đội ngũ cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức, độ tuổi, giới tính.
Phát triển đội ngũ giảng viên là làm cho số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên vận động theo hướng đi lên trong mối hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo nên một đội ngũ giảng viên bền vững. Đội ngũ giảng viên là nhân lực quan trọng của các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, phát triển đội ngũ giảng viên chính là phát triển nhân lực trong các nhà trường.