Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vũ Chí Hùng tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Chu Đức Dũng và PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng. Công trình thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế, mã số đào tạo 9.06.
Về tính cấp thiết, tác giả xác định công nghiệp hỗ trợ (Supporting Industry - CNHT) là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh và thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Ở tầm vĩ mô, phát triển CNHT góp phần giảm nhập siêu, hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn linh phụ kiện bên ngoài, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng sức hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tại Việt Nam, ngành CNHT non trẻ, quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất linh kiện đơn giản có giá trị gia tăng thấp; dung lượng thị trường hạ nguồn còn hẹp; chất lượng sản phẩm không đồng đều và thời hạn giao hàng chưa bảo đảm. Đồng thời, khung khổ pháp lý, cơ chế điều phối đầu mối của cơ quan quản lý nhà nước và vai trò của các tổ chức trung gian, hiệp hội còn nhiều khoảng trống. Do đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn từ ba nền kinh tế Đông Á phát triển thành công CNHT là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan mang tính cấp thiết về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, đánh giá quan điểm và giải pháp phát triển CNHT của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để thúc đẩy phát triển ngành kinh tế này trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích trên, luận án xác lập 05 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến phát triển CNHT ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển CNHT (khái niệm, đặc điểm, vai trò, tiêu chí đánh giá và các nhân tố tác động).
- Nghiên cứu thực tiễn phát triển CNHT ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan từ năm 1980 đến thời điểm nghiên cứu, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm.
- Rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển CNHT trong giai đoạn tới.
- Nêu hàm ý chính sách cho Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển CNHT.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn (chủ yếu là cơ chế, chính sách) phát triển CNHT ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, nội địa hóa sản phẩm và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Nghiên cứu tổng thể cơ chế, chính sách phát triển CNHT; đi sâu phân tích một số ngành cụ thể gồm: ngành ô tô, điện tử, dệt may tại Nhật Bản; ngành thép, dệt may, điện tử, ô tô tại Hàn Quốc; ngành dệt may, chế tạo máy, sản xuất bán dẫn tại Đài Loan; ngành điện tử và dệt may tại Việt Nam.
- Về không gian: Không gian kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam.
- Về thời gian: Nghiên cứu thực tiễn của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan từ năm 1980 đến thời điểm thực hiện luận án; nghiên cứu thực trạng tại Việt Nam từ khi có chủ trương phát triển CNHT vào những năm 1990, trọng tâm từ sau Đại hội Đảng XI (tháng 01/2011) đến nay; định hướng vận dụng kinh nghiệm đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 theo Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 09/06/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được cấu trúc theo 03 nhóm nội dung chính:
Nhóm nghiên cứu lý luận về CNHT và phát triển CNHT: Khái niệm "Công nghiệp liên quan và hỗ trợ" được M. Porter (1990) đề cập trong công trình "The competitive advantage of nations" như một trong bốn đỉnh của mô hình "viên kim cương" xác lập lợi thế cạnh tranh quốc gia. Về mặt danh xưng hành chính, Bộ Công thương Nhật Bản (MITI, nay là METI) (1985) lần đầu sử dụng thuật ngữ CNHT trong "White paper on Industry and Trade" để chỉ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sản xuất linh phụ kiện. Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) (2002) trong ấn phẩm "Strengthening of supporting Industries: Asian Experiences" tổng kết chính sách thu hút FDI, tỷ lệ nội địa hóa và liên kết doanh nghiệp. Tại Việt Nam, Lê Thế Giới (2009) vận dụng lý thuyết cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh; đề tài cấp Nhà nước của Hoàng Văn Châu (2010) và đề tài cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công nghiệp (2010) hệ thống hóa lý luận cơ bản về CNHT. Tác phẩm của Ali Akkemik (2009) phân tích chính sách công nghiệp tại Đông Á qua mô hình CGE. Các nghiên cứu của Goh Ban Lee (1998) và Noor, Clarke, Driffield (2002) phân tích mối liên kết giữa tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp cung ứng nội địa trong ngành điện tử Malaysia. Báo cáo của JETRO (3/2004), nghiên cứu của Nguyễn Kế Tuấn (2004), sách chuyên khảo của Trần Văn Thọ (2005), các bài viết của Phan Đăng Tuất (2005, 2008, 2009) và luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Thu (2012) tập trung xác định vai trò nền tảng của CNHT trong tiến trình hội nhập.
Nhóm nghiên cứu về thực trạng phát triển CNHT: Báo cáo của JETRO (2003) và JBIC (2004) khảo sát mạng lưới cung ứng và hệ thống thầu phụ của doanh nghiệp Nhật Bản tại châu Á. JICA (2016) công bố báo cáo đánh giá CNHT ngành ô tô Việt Nam. Nghiên cứu cấp Bộ của Nguyễn Hoàng Ánh (2008) phân tích chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử. Kwoh-ting Li và Tzong-shian Yu (1982) phân tích kinh nghiệm phát triển CNHT tại Đài Loan. Phí Hồng Minh và Nguyễn Cao Đức (2013) nghiên cứu cơ chế thầu phụ giữa các tập đoàn lớn và DNNVV tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Cuốn sách do Trần Đình Thiên chủ biên (2012) chỉ ra các điểm nghẽn thực trạng và đề xuất 8 nhóm giải pháp cho Việt Nam. Cù Chí Lợi và cộng sự (2012) phân tích mạng sản xuất toàn cầu và mức độ tham gia hạn chế của các ngành công nghiệp Việt Nam. Đặng Thu Hương và Trần Ngọc Thìn (2009) chỉ rõ nguyên nhân yếu kém do thiếu hụt nhân lực kỹ thuật và thông tin kết nối. Các nghiên cứu chuyên ngành sâu có luận án của Nguyễn Thị Huế (2012) về ngành ô tô, Trương Thị Chí Bình (2010) về điện tử gia dụng, Hà Thị Hương Lan (2014) về một số ngành công nghiệp, Nguyễn Thị Dung Huệ (2006) về dệt may, cùng các bài báo khoa học của Nguyễn Trọng Hoài và Huỳnh Thanh Điền (2015), Phạm Tất Thắng (2013).
Nhóm nghiên cứu về kiến nghị, giải pháp phát triển CNHT: Đề tài của Lê Thế Giới (2008) tại Đà Nẵng, đề tài của Vũ Nhữ Thăng (2013) về chính sách tài chính phát triển CNHT, đề tài của Nguyễn Trường Sơn (2013) tại Quảng Ngãi đã đề xuất giải pháp quy hoạch mặt bằng, ưu đãi tài chính và hình thành cơ sở dữ liệu cung ứng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều công trình trong và ngoài nước đề cập đến CNHT, song các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận theo từng ngành đơn lẻ, từng địa phương hoặc khảo sát chung. Đến thời điểm năm 2018, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ kinh tế quốc tế nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về so sánh cơ chế, chính sách phát triển CNHT của ba nền kinh tế tiêu biểu vùng Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) để rút ra hệ thống bài học kinh nghiệm đồng bộ, phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn CNH, HĐH.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, trọng tâm là lý luận về phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất. Khi phân công lao động phát triển đến trình độ cao, quy trình sản xuất các sản phẩm phức tạp được chia tách thành các công đoạn sản xuất linh kiện, chi tiết trung gian do các đơn vị độc lập đảm nhận.
Các khung phân tích và lý thuyết kinh tế học được tác giả sử dụng bao gồm:
- Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter (mô hình "viên kim cương", nhấn mạnh vai trò của ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ).
- Lý thuyết liên kết kinh doanh (business linkages) giữa doanh nghiệp lắp ráp hạ nguồn và các nhà cung cấp linh phụ kiện thượng nguồn.
- Lý thuyết chuỗi giá trị (value chain) và mạng sản xuất toàn cầu, phân định các công đoạn thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn.
- Lý thuyết cụm liên kết ngành công nghiệp (industrial cluster) và hệ sinh thái kinh doanh.
- Mô hình các tầng lớp cung ứng hỗ trợ:
| Tầng lớp cung ứng |
Đặc trưng tổ chức và vai trò kinh tế |
| Nhà cung ứng Lớp I |
Cơ sở sản xuất thân tín ("phụ trợ ruột"), thường thuộc tập đoàn hoặc liên kết mẹ - con; sản xuất cụm linh kiện phức tạp, nắm giữ bí quyết công nghệ theo đơn hàng trực tiếp của nhà lắp ráp. |
| Nhà cung ứng Lớp II |
Thường là các DNNVV độc lập; chuyên sản xuất chi tiết, linh kiện quan trọng cung cấp cho Lớp I hoặc cung cấp trực tiếp cho nhà lắp ráp theo hợp đồng dài hạn. |
| Nhà cung ứng Lớp III |
Các cơ sở sản xuất chi tiết đơn giản, hàng loạt, mua bán theo quan hệ thị trường thông thường; giá trị gia tăng thấp, hàm lượng nguyên vật liệu cao. |
Tác giả đưa ra định nghĩa tổng hợp: "Công nghiệp hỗ trợ là một ngành kinh tế kỹ thuật, bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm trung gian, cung cấp linh, phụ kiện máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đã qua chế biến và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất theo các quy trình nhất định để lắp ráp các sản phẩm cuối cùng".
Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án thuộc hướng nghiên cứu định tính kết hợp phân tích kinh tế thực chứng, thể chế và lịch sử. Tác giả áp dụng các phương pháp: thu thập tài liệu thứ cấp; hệ thống hóa lý luận; phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh đối chiếu (so sánh chính sách giữa Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan); thống kê mô tả; biểu diễn dữ liệu bằng bảng số liệu và đồ thị; phương pháp chuyên gia.
Nguồn dữ liệu: Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan nghiên cứu quốc tế (JETRO, JBIC, JICA, APO, UNIDO), niên giám thống kê, các báo cáo tổng kết ngành của Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 2003 đến 2016.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN VÀ VIỆT NAM
Chương này trình bày chi tiết bức tranh tổng quan tài liệu theo ba mảng: lý luận, thực trạng và giải pháp phát triển CNHT. Tác giả đánh giá những đóng góp của các học giả đi trước trong việc định hình khái niệm, phân tích vai trò của DNNVV và cơ chế thầu phụ. Đồng thời, tác giả chỉ ra các điểm hạn chế của các nghiên cứu hiện có: các phân tích về cơ chế, chính sách còn phân tán; chưa làm rõ sự khác biệt trong mô hình phát triển CNHT giữa các nền kinh tế Đông Á; thiếu các phân tích định vị đầy đủ mối quan hệ phụ thuộc giữa ngành hạ nguồn và ngành phụ trợ trong bối cảnh các chuỗi giá trị toàn cầu tái cấu trúc. Từ đó, tác giả luận giải tính hợp lý của đề tài luận án nhằm bổ sung cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách tại Việt Nam.
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Chương 2 tập trung xây dựng khung lý luận về CNHT. Tác giả phân loại phạm vi tiếp cận của CNHT theo ba mức độ:
| Cấp độ phạm vi |
Nội dung cấu thành |
| Phạm vi chính |
Các ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện và công cụ để sản xuất linh kiện. |
| Phạm vi rộng 1 |
Bao gồm phạm vi chính và bổ sung các dịch vụ sản xuất phụ trợ (hậu cần, kho bãi, phân phối, bảo hiểm). |
| Phạm vi rộng 2 |
Bao gồm toàn bộ hàng hóa đầu vào: linh kiện, phụ tùng, máy móc công cụ và nguyên vật liệu cơ bản đã qua chế biến (thép, hóa chất). |
Tác giả xác định 05 nội hàm bản chất của CNHT: (1) Ngành kinh tế kỹ thuật phát sinh từ phân công lao động xã hội ở trình độ cao; (2) Tính liên kết ngành và đa ngành rất cao; (3) Kết hợp trình độ kỹ thuật của máy móc và kỹ năng lao động; (4) Thể hiện mối liên kết kinh tế giữa các chủ thể độc lập và phụ thuộc; (5) Sản phẩm mang tính trung gian, phụ thuộc vào thị trường của sản phẩm hạ nguồn.
Chương này phân tích 08 vai trò của CNHT đối với nền kinh tế:
- Động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp và nền kinh tế.
- Thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất và ứng dụng công nghệ hiện đại.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
- Thúc đẩy phát triển hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
- Thúc đẩy chuyển giao và đổi mới khoa học - công nghệ.
- Tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp.
- Góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, giảm nhập siêu, đẩy mạnh CNH, HĐH.
- Tạo tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế bền vững.
Về tiêu chí đánh giá mức độ phát triển CNHT, luận án xác định 06 nhóm tiêu chí: (1) Số lượng và quy mô doanh nghiệp CNHT (vốn, lao động, doanh thu); (2) Thị phần và mức độ nội địa hóa sản phẩm (sản xuất nội bộ, mua từ FDI, mua từ doanh nghiệp nội địa); (3) Tốc độ tăng trưởng và giá trị gia tăng của sản phẩm hỗ trợ; (4) Năng lực cạnh tranh của sản phẩm (chi phí, chất lượng, thời gian giao hàng); (5) Tiêu chuẩn chất lượng và giá cả; (6) Trình độ và cơ cấu nguồn nhân lực công nghiệp.
Về các nhân tố tác động, luận án phân tích 04 nhóm nhân tố: Môi trường kinh tế vĩ mô và cơ chế chính sách của Nhà nước; Quan hệ liên kết khu vực, toàn cầu và vai trò của các tập đoàn đa quốc gia (MNCs); Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế; Quy mô phát triển của các ngành công nghiệp cơ bản và khu vực công nghiệp hạ nguồn.
Chương 3: THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở NHẬT BẢN, HÀN QUỐC VÀ ĐÀI LOAN
Chương 3 khảo sát quá trình phát triển CNHT tại ba nền kinh tế Đông Á:
- Thực tiễn tại Nhật Bản: CNHT phát triển dựa trên nền tảng hệ thống quan hệ thầu phụ nhiều tầng bậc (keiretsu/vệ tinh), trong đó các tập đoàn lắp ráp lớn hỗ trợ vốn, công nghệ và quản trị dài hạn cho các DNNVV. Tác giả phân tích sâu các ngành ô tô, điện tử và dệt may. Các chính sách bảo hộ và thúc đẩy DNNVV, việc METI ban hành các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn hóa linh kiện giúp tạo dựng mạng lưới cung ứng nội địa có năng lực kỹ thuật cao.
- Thực tiễn tại Hàn Quốc: Quá trình phát triển gắn liền với các tập đoàn kinh tế lớn (Chaebol) trong các ngành thép, ô tô, điện tử và dệt may. Hàn Quốc chuyển đổi từ chính sách định hướng xuất khẩu những năm 1970 sang mở cửa, tự do hóa thị trường và cải cách cơ cấu công nghiệp trong thập niên 1990. Chính phủ ban hành các đạo luật đặc biệt về công nghiệp nguyên liệu và linh kiện, hỗ trợ DNNVV thoát khỏi sự chèn ép của các tập đoàn lớn nhằm gia tăng năng lực tự chủ công nghệ.
- Thực tiễn tại Đài Loan: Mô hình dựa trên cấu trúc các DNNVV linh hoạt trong các ngành dệt may, chế tạo máy và công nghiệp bán dẫn. Chính quyền Đài Loan áp dụng nghiêm ngặt các quy định về tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm trong các giai đoạn đầu, kết hợp với các viện nghiên cứu công lập (như ITRI) để chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp phụ trợ nội địa, tạo ra các sản phẩm đạt thị phần hàng đầu thế giới.
- Đánh giá so sánh: Luận án so sánh mô hình thầu phụ khép kín của Nhật Bản, mô hình do các tập đoàn lớn dẫn dắt của Hàn Quốc và mạng lưới DNNVV linh hoạt của Đài Loan; phân tích bài học về vai trò kiến tạo của nhà nước, sự can thiệp có chọn lọc bằng công cụ tài chính, thuế và hỗ trợ chuyển giao công nghệ.
Chương 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Chương này tập trung vào thực trạng và bài học cho Việt Nam:
- Khái quát thực trạng CNHT tại Việt Nam: Phân tích thực trạng tập trung vào hai ngành then chốt là điện tử và dệt may. CNHT ngành điện tử chủ yếu tham gia ở các công đoạn gia công cơ khí đơn giản, bao bì, linh kiện nhựa có giá trị gia tăng thấp; phần lớn linh kiện tinh xảo do các doanh nghiệp FDI đảm nhiệm. CNHT dệt may gặp điểm nghẽn nghiêm trọng ở khâu dệt, nhuộm hoàn tất và sản xuất xơ sợi tổng hợp, dẫn đến tình trạng nhập siêu nguyên phụ liệu lớn kéo dài. Các rào cản chính được nhận diện gồm: dung lượng thị trường hạ nguồn nhỏ lẻ; thiếu sự liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI; năng lực tài chính và trình độ công nghệ của doanh nghiệp trong nước hạn chế; chính sách phát triển (từ Quyết định 34/2007/QĐ-BCN, Quyết định 12/2011/QĐ-TTg đến Nghị định 111/2015/NĐ-CP) còn thiếu cơ chế thực thi nhất quán và thiếu cơ quan chuyên trách quản lý thống nhất.
Luận án tổng hợp các chỉ tiêu thống kê và bảng biểu thực chứng tiêu biểu được sử dụng trong nội dung:
| Ký hiệu / Tên bảng biểu trong luận án |
Nội dung số liệu / Đối tượng phản ánh |
| Bảng 3.1 |
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp điện tử Nhật Bản năm 2016. |
| Bảng 3.2 |
Tình hình phân bổ sản xuất các linh kiện điện tử ở Nhật Bản. |
| Bảng số liệu (Chương 3) |
Số lượng doanh nghiệp sản xuất ô tô, xe máy Hàn Quốc năm 2015. |
| Bảng chính sách (Chương 3) |
Chính sách công nghiệp nguyên liệu và linh kiện của Hàn Quốc giai đoạn 1970 đến những năm 2000. |
| Bảng sản phẩm (Chương 3) |
Mười sản phẩm sản xuất ở Đài Loan xếp số một thế giới năm 2012. |
| Bảng thống kê (Chương 4) |
Số lượng doanh nghiệp CNHT ngành Điện tử giai đoạn 2006 - 2015. |
| Bảng kim ngạch (Chương 4) |
Tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghệ thông tin của Việt Nam. |
| Bảng giá trị sản xuất (Chương 4) |
Giá trị sản xuất CNHT ngành dệt may Việt Nam (Đơn vị: Tỷ đồng). |
| Bảng lao động (Chương 4) |
Lao động lĩnh vực công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam (Đơn vị: Người). |
| Bảng tỷ trọng doanh thu (Chương 4) |
Doanh thu ngành dệt và ngành may trên tổng doanh thu ngành công nghiệp chế biến. |
| Bảng ngoại thương (Chương 4) |
Tình hình nhập khẩu của ngành dệt may Việt Nam từ năm 2009 đến 2015 (Đơn vị: triệu USD). |
- Hệ thống bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam:
- Hoàn thiện khung khổ thể chế và cơ chế quản lý nhà nước: Thành lập cơ quan chuyên trách làm đầu mối điều phối chính sách CNHT; xây dựng luật hoặc nghị định chuyên ngành đủ hiệu lực; ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
- Chính sách hỗ trợ có trọng tâm cho các DNNVV: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng dài hạn, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ mặt bằng sản xuất trong các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên biệt.
- Thúc đẩy cơ chế thầu phụ và liên kết doanh nghiệp: Xây dựng cơ chế ràng buộc và khuyến khích các tập đoàn FDI liên kết, chuyển giao công nghệ và sử dụng nhà cung cấp nội địa; phát triển mạng lưới liên kết giữa Lớp I, Lớp II và Lớp III.
- Nâng cao năng lực công nghệ và đào tạo nhân lực kỹ thuật: Nhà nước đầu tư các trung tâm R&D kỹ thuật dùng chung; hỗ trợ doanh nghiệp cải tiến quy trình quản lý chất lượng; đào tạo đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên vận hành máy móc lành nghề.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu và phát triển thị trường: Hình thành hệ thống thông tin dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp CNHT nhằm kết nối cung - cầu giữa nhà sản xuất hạ nguồn và nhà cung cấp linh kiện.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về CNHT và phát triển CNHT; làm rõ cấu trúc đa tầng của hệ thống cung ứng (Lớp I, II, III), nội hàm 5 đặc trưng và 8 vai trò kinh tế của CNHT; xây dựng hệ thống 06 tiêu chí đánh giá mức độ phát triển CNHT gắn với phân công lao động quốc tế.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh so sánh đối chiếu về cơ chế, chính sách và mô hình phát triển CNHT của ba nền kinh tế Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) trong giai đoạn từ 1980 đến thời điểm nghiên cứu; chỉ rõ các nguyên nhân khiến CNHT Việt Nam chậm phát triển; đề xuất hệ thống bài học kinh nghiệm và các hàm ý chính sách khả thi nhằm định hướng phát triển CNHT Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 theo tinh thần Quyết định 879/QĐ-TTg.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, phạm vi khảo sát chuyên sâu của luận án giới hạn trong một số ngành công nghiệp cụ thể (ô tô, điện tử, dệt may, thép, chế tạo máy, bán dẫn), chưa bao quát toàn bộ các phân ngành sản xuất công nghiệp khác. Nguồn số liệu thống kê về doanh nghiệp CNHT tại Việt Nam giai đoạn trước năm 2016 còn tản mát, chưa có hệ thống phân loại ngành kinh tế riêng biệt cho sản phẩm CNHT, gây khó khăn nhất định cho việc lượng hóa tuyệt đối giá trị gia tăng nội địa.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình tiếp theo có thể mở rộng đánh giá tác động định lượng của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp CNHT, hoặc nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình chuyển đổi số và tự động hóa trong các chuỗi cung ứng linh kiện chuyên biệt.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương trong việc hoạch định chính sách công nghiệp, xây dựng cơ chế ưu đãi cho DNNVV và hoàn thiện khung pháp lý về công nghiệp hỗ trợ.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên: Các cơ sở đào tạo chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển; phục vụ giảng dạy các học phần về Chính sách thương mại quốc tế, Chuỗi cung ứng toàn cầu và Công nghiệp hóa.
- Hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp: Các hiệp hội ngành hàng (VAMI, VITAS, VEIA) và các nhà sản xuất công nghiệp tham khảo trong việc xây dựng chiến lược liên kết thầu phụ và nâng chuẩn kỹ thuật cung ứng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án định nghĩa công nghiệp hỗ trợ như thế nào?
Tác giả định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là một ngành kinh tế kỹ thuật, bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm trung gian, cung cấp linh, phụ kiện máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đã qua chế biến và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất theo các quy trình nhất định để lắp ráp các sản phẩm cuối cùng.
2. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ xuất hiện lần đầu tiên ở đâu và vào thời gian nào theo luận án?
Theo luận án, khái niệm này xuất hiện đầu tiên tại Nhật Bản vào năm 1985, được Bộ Công thương Nhật Bản (MITI) sử dụng trong "Sách trắng về hợp tác quốc tế năm 1985" để chỉ các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất phụ tùng, linh kiện đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á. Tại Việt Nam, thuật ngữ này xuất hiện lần đầu vào năm 2003 trong khuôn khổ "Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản" giai đoạn I.
3. Luận án chia các lớp cung ứng của công nghiệp hỗ trợ thành mấy nhóm và đặc điểm của từng nhóm là gì?
Luận án chia thành ba nhóm:
- Nhóm Lớp I: Cơ sở sản xuất thân tín ("phụ trợ ruột"), thường thuộc tập đoàn công nghiệp, sản xuất linh kiện, phụ tùng quan trọng chứa bí quyết công nghệ theo đặt hàng trực tiếp.
- Nhóm Lớp II: Thường là DNNVV độc lập, cung cấp chi tiết quan trọng cho Lớp I hoặc cung cấp cho nhà lắp ráp theo hợp đồng dài hạn.
- Nhóm Lớp III: Cơ sở sản xuất linh kiện đơn giản, hàng loạt, quan hệ mua bán thông thường trên thị trường, giá trị gia tăng thấp.
4. Luận án đánh giá những điểm nghẽn chính của công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam là gì?
Luận án chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất của CNHT dệt may Việt Nam nằm ở khâu dệt vải, xử lý nhuộm hoàn tất và sản xuất xơ sợi tổng hợp. Mặc dù xuất khẩu may mặc lớn, ngành may vẫn phụ thuộc nặng nề vào nguồn vải và phụ liệu nhập khẩu, khiến giá trị gia tăng nội địa thấp và cán cân thương mại ngành dệt may chịu thâm hụt lớn trong nhập khẩu nguyên phụ liệu giai đoạn 2009 - 2015.
5. Luận án đề xuất mấy nhóm tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển của công nghiệp hỗ trợ?
Luận án đề xuất 06 nhóm tiêu chí: (1) Số lượng và quy mô doanh nghiệp; (2) Thị phần và mức độ nội địa hóa sản phẩm; (3) Tốc độ tăng trưởng và giá trị gia tăng; (4) Năng lực cạnh tranh của sản phẩm; (5) Chất lượng và giá cả sản phẩm; (6) Trình độ nguồn nhân lực công nghiệp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Chí Hùng là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế, tiếp cận vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ dưới góc độ kết hợp lý luận phân công lao động với kinh nghiệm thực tiễn từ ba nền kinh tế Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan). Bằng phương pháp phân tích thể chế, lịch sử và so sánh đối chiếu kinh tế thực chứng, tác giả đã làm rõ cấu trúc liên kết thầu phụ và các điều kiện tác động đến sự hình thành chuỗi giá trị phụ trợ. Các bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách được luận án đề xuất cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong việc thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.