Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN VÀ VIỆT NAM 1. Những nghiên cứu lý luận về công nghiệp hỗ trợ và phát triển công nghiệp hỗ trợ Nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng về các yếu tố cấu thành nên lợi thế cạnh tranh. Năm 1990, “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” đã được M. Porter nhắc đến trong “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia” (The competitive advantage of nations, Harvard business review 1990) [135].
Trong đó, cụm từ này đã được phân tích như là một trong năm yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu về CNHT nhiều nhất vẫn là ở các quốc gia Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, nơi ra đời khái niệm CNHT. Tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản đã được phân tích trong “Chi nhánh các nhà lắp ráp Nhật Bản ở châu Á” (Japanese-Affiliated Manufactures in Asia), JETRO thực hiện năm 2003 [123]; và “Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản” (Survey report on overseas business operations by Japanese manufacturing companies) do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) xuất bản năm 2004 [122]. Báo cáo chỉ ra rằng, chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành với vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản.
Michael (1990) trong tác phẩm“The competitive advantage of nations, Harvardbusiness review” (Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia), Trường Đại học Havard - New York Mỹ [135], đã phân tích, giải thích thuật ngữ “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ”. Tác giả phân tích khá sâu sắc thuật ngữ này thông qua việc đưa ra lý thuyết về khả năng cạnh tranh quốc gia qua mô hình “viên kim cương”. Trong đó, công nghiệp liên quan và hỗ trợ được coi là một trong bốn yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” được coi là sự tồn tại của ngành cung cấp và ngành công 6 nghiệp liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Tác giả đã chia yếu tố này thành hai phần là CNHT và công nghiệp liên quan. Theo đó, sự phát triển của một ngành công nghiệp đạt được phải dựa trên khả năng sáng tạo, đổi mới và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư thông qua mối quan hệ tác động qua lại và sự liên kết bền vững như cấu trúc tinh thể của kim cương giữa bốn nhóm yếu tố, trong đó có nhấn mạnh vai trò của CNHT. Bộ Công thương Nhật Bản (MITI, nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại, METI) (1985), trong công trình “White paper on Industry and Trade” (Sách trắng về hợp tác kinh tế), Tokyo [140], thuật ngữ CNHT lần đầu tiên được nhắc đến để chỉ các DNNVV có đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á trong trung và dài hạn hay đó chính là các công ty sản xuất linh phụ kiện. Các tác giả đã đánh giá vai trò của các công ty sản xuất linh phụ kiện trong quá trình CNH, HĐH và phát triển các DNNVV ở Hàn Quốc, Đài Loan và các nước ASEAN, đặc biệt là ASEAN 4 (gồm bốn nước: Indonesia, Malaysia, Philipines và Thái Lan).
Việc thúc đẩy phát triển hệ thống các DNNVV chính là việc thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp hỗ trợ trong quá trình CNH, HĐH ở những nền kinh tế này. Năm 2002, Tổ chức năng suất châu Á (Asian productivtity Orgnisation) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ trong cuốn sách “Đẩy mạnh CNHT: các kinh nghiệm của châu Á” (Strengthening of supporting Industries: Asian Experiences) [115]. Đây là tài liệu hữu ích cho các nước đang phát triển về chính sách phát triển CNHT qua các thời kỳ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Các chính sách này tập trung vào một số điểm chính: Thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển CNHT, quy định về tỷ lệ nội địa hóa và các hỗ trợ mạnh mẽ hiệu quả từ phía Chính phủ dành cho liên kết doanh nghiệp, như là điều kiện tiên quyết để phát triển CNHT.
Lê Thế Giới (2009) đã nêu ra cách tiếp cận lý thuyết cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh trong “Nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành CNHT tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 1/2009 [36]. Bài viết bàn về các luận điểm cơ bản của lý thuyết cụm công nghiệp và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh trong phát triển các lợi thế cạnh tranh công nghiệp ở cấp 7 độ quốc gia, vùng và địa phương. Từ đó, phân tích làm rõ mối quan hệ giữa CNHT với cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh. Và trên cơ sở nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành CNHT của Việt Nam, tác giả đưa ra các khuyến nghị trong trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành CNHT tại Việt Nam.
Trong đề tài khoa học cấp Nhà nước “CNHT - kinh nghiệm từ các nước và giải pháp cho Việt Nam” do Hoàng Văn Châu làm chủ nhiệm (2010) [23], , các tác giả đã đi sâu phân tích những vấn đề chung về CNHT, phân tích kinh nghiệm phát triển CNHT của thế giới, trong đó đặc biệt phân tích phát triển CNHT các nước ở khu vực châu Á như: Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia. từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển CNHT tại Việt Nam. Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp - Bộ Công thương, (2010), Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu chính sách tổng thể phát triển CNHT trong điều kiện hội nhập” [100], đã đưa ra những vấn đề chung về CNHT như: khái niệm, những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT, sự cần thiết phải phát triển CNHT ở Việt Nam và các lựa chọn ưu tiên cho phát triển CNHT. Bàn về vai trò của chính sách phát triển công nghiệp của các nước Đông Á không thể không kể đến một ấn phẩm là “Industrial Development In East Asia: A Comparative Look at Japan, Korea, Taiwan and Singapore” (2009), [129], đã có những đánh giá mô tả về chính sách công nghiệp trong bốn nền kinh tế Đông Á - Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore.
Ali Akkemik đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về chính sách công nghiệp ở Đông Á và đánh giá định lượng của các chính sách thông qua phân tích năng suất và mô hình CGE. Qua đó đánh giá vai trò tích cực của chính sách công nghiệp và các hoạt động của Chính phủ trong cải thiện phúc lợi và phát triển công nghiệp. Đồng thời, cuốn sách còn đưa ra một so sánh giữa chính sách phát triển công nghiệp của Singapore (khi áp dụng mô hình CGE cho nền kinh tế Singapore) với các nước Đông Nam Á. Năm 1998, nghiên cứu của Goh Ban Lee, Đại học Sains, Malaysia “Liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và các ngành CNHT nội địa” (Linkage between the Multinational Corporations and Local Supporting Industries) [124], 8 đã đánh giá rất cao vai trò của chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của Chính phủ Malaysia giữa các tập đoàn điện tử gia dụng của Nhật Bản với các doanh nghiệp nội địa sản xuất linh kiện cho ngành điện tử.
Năm 2002, nhóm tác giả Noor, Halim, Clarke, Roger, Driffield và Nigel chỉ ra vai trò quan trọng của hỗ trợ từ phía Chính phủ cho đổi mới và sáng tạo của các doanh nghiệp nội địa trong phát triển cung ứng cho ngành điện tử, trong: “Tập đoàn đa quốc gia và các nỗ lực công nghệ của doanh nghiệp địa phương: trường hợp nghiên cứu ngành công nghiệp điện và điện tử Malaysia” (Multinational cooperation and technological effort by local firm: a case study of the Malaysian Electronics and Electrical Industry) [125]. Tháng 3 năm 2004, Báo cáo nghiên cứu điều tra “Xây dựng và đẩy mạnh CNHT ở Việt Nam” [34] do JETRO thực hiện được coi là tài liệu đầu tiên đánh giá về các ngành CNHT ở Việt Nam. Tác giả đã khẳng định CNHT ở Việt Nam đã bắt đầu hình thành. Mặc dù nhận thức của các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp thời điểm đó còn rất thấp, các doanh nghiệp tư nhân và khối doanh nghiệp FDI đang vươn lên và khá chủ động trong việc nắm bắt các cơ hội.
Năm 2004, Bài viết “Phát triển CNHT trong chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” [91] trên tạp chí Kinh tế và Phát triển, tác giả Nguyễn Kế Tuấn đã đề cập tổng quát: khái niệm, vai trò, các nhân tố tác động đến phát triển CNHT, đề xuất một số chính sách chủ yếu về phát triển CNHT, đặc biệt là quan điểm để lựa chọn xây dựng chính sách phát triển CNHT cho Việt Nam. Trần Văn Thọ (2005), “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam và công nghiệp phụ trợ mũi đột phá chiến lược” [80], Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Tác giả đã phân tích con đường phát triển công nghiệp ở Việt Nam theo hướng toàn cầu hoá, thông qua phát triển công nghiệp phụ trợ như là lĩnh vực của hệ thống DNNVV; đồng thời, chỉ rõ vai trò quan trọng của phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện nay. Coi công nghiệp phụ trợ như là một mũi đột phá chiến lược để trong thời gian ngắn khắc phục các mặt yếu cơ bản của công nghiệp Việt Nam và Việt Nam cần tập trung tất cả các năng lực về chính sách cho mũi đột phá chiến lược đó.
9 Tại Hội thảo về CNHT của JETRO năm 2005, tác giả Phan Đăng Tuất, trong “Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Nhật Bản - Con đường nào cho Việt Nam” [92], trong “Kế hoạch hành động về phát triển CNHT Việt Nam” tại Diễn đàn Liên kết hội nhập cùng phát triển năm 2008 và trong “CNHT, vấn đề trọng đại” đăng trên Báo Công Thương số Tết 2009, đã khẳng định các vai trò quan trọng của CNHT đối với nền kinh tế, yêu cầu về DNNVV và sự hợp tác với Nhật Bản trong phát triển CNHT ở Việt Nam. Năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển CNHT Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020, do Bộ Công nghiệp (nay Bộ Công thương) soạn thảo [17]. Trong quy hoạch này, lần đầu tiên khái niệm CNHT được chính thức hóa ở Việt Nam.