Luận Văn Thạc Sĩ Về Phát Triển Bền Vững Ngành Thủy Sản Tỉnh Ninh Bình

Luận văn thạc sĩ UEB về phát triển bền vững ngành thủy sản Ninh Bình, phân tích tiềm năng và giải pháp cho sự phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

116
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY SẢN

1.1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1.1. Những tư tưởng cơ bản về phát triển bền vững kinh tế - xã hội

1.1.2. Phát triển bền vững kinh tế xã hội là một tất yếu. Một số tiêu chí về tính phát triển bền vững kinh tế - xã hội

1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY SẢN

1.2.1. Quan niệm về phát triển bền vững ngành thủy sản

1.2.2. Các lý thuyết kinh tế liên quan đến phát triển bền vững ngành thủy sản

1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong phát triển thủy sản

1.3. KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY SẢN

1.3.1. Hiện trạng nguồn lợi thủy sản và những nguy cơ của nghề cá thế giới

1.3.2. Các nguyên tắc chung để bảo vệ nguồn lợi thủy sản

1.3.3. Một số giải pháp phát triển thủy sản bền vững của các nước trên thế giới và vận dụng vào Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY SẢN NINH BÌNH NHỮNG NĂM QUA

2.1. TỔNG QUAN VỀ THỦY SẢN NINH BÌNH VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN THỦY SẢN

2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

2.1.2. Đặc điểm môi trường, nguồn lợi và tiềm năng phát triển thủy sản

2.1.3. Đặc điểm về điều kiện kinh tế xã hội

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỦY SẢN TỈNH NINH BÌNH QUA NHỮNG NĂM QUA

2.2.1. Thực trạng phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản

2.2.2. Thực trạng phát triển bền vững khai thác thủy sản

2.2.3. Thực trạng phát triển bền vững chế biến thủy sản và thương mại thủy sản

2.2.4. Thực trạng phát triển bền vững ngành thủy sản về tài nguyên và môi trường

2.2.5. Thực trạng phát triển bền vững ngành thủy sản Ninh Bình về xã hội

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY SẢN NINH BÌNH

3.1. DỰ BÁO CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN THỦY SẢN TỈNH NINH BÌNH

3.1.1. Bối cảnh chung. Dự báo tiến bộ khoa học công nghệ. Dự báo nhu cầu tiêu dùng thủy sản và thị trường tiêu thụ

3.1.2. Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản trong nước. Dự báo tình trạng biến đổi khí hậu

3.2. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN NINH BÌNH

3.2.1. Quan điểm phát triển ngành thủy sản tỉnh Ninh Bình

3.2.2. Định hướng phát triển ngành thủy sản tỉnh Ninh Bình

3.2.3. Mục tiêu phát triển ngành thủy sản Ninh Bình

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY SẢN NINH BÌNH

3.3.1. Nhóm giải pháp phát triển bền vững khai thác thủy sản Ninh Bình

3.3.2. Nhóm giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản Ninh Bình

3.3.3. Giải pháp phát triển phát triển bền vững chế biến và tiêu thụ thủy sản

3.3.4. Giải pháp hỗ trợ phát triển bền vững thủy sản Ninh Bình

PHỤ LỤC THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Bền Vững Ngành Thủy Sản Tại Ninh Bình

Ngành thủy sản tại Ninh Bình có tiềm năng phát triển lớn nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi và nguồn tài nguyên phong phú. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần có những chiến lược rõ ràng nhằm bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc áp dụng các công nghệ mới và quản lý tài nguyên hiệu quả là rất cần thiết.

1.1. Đặc Điểm Tự Nhiên Và Kinh Tế Của Ninh Bình

Ninh Bình có khoảng 22.436 ha diện tích mặt nước, bao gồm ruộng trũng, ao hồ và vùng nước mặn, lợ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản và khai thác hải sản.

1.2. Vai Trò Của Ngành Thủy Sản Trong Kinh Tế Tỉnh

Ngành thủy sản đóng góp quan trọng vào GDP của tỉnh Ninh Bình, tạo ra nhiều việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, cần có sự đầu tư và cải cách để nâng cao giá trị gia tăng.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Bền Vững Ngành Thủy Sản

Mặc dù có nhiều tiềm năng, ngành thủy sản Ninh Bình vẫn đối mặt với nhiều thách thức như ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và sự biến đổi khí hậu. Những vấn đề này cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

2.1. Ô Nhiễm Môi Trường Và Tác Động Đến Ngành Thủy Sản

Ô nhiễm từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nước và sức khỏe của các loài thủy sản. Cần có các biện pháp bảo vệ môi trường hiệu quả.

2.2. Biến Đổi Khí Hậu Và Ảnh Hưởng Đến Sản Xuất

Biến đổi khí hậu gây ra những thay đổi lớn trong điều kiện thời tiết, ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng thủy sản. Cần có các chiến lược ứng phó kịp thời.

III. Phương Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Thủy Sản Tại Ninh Bình

Để phát triển bền vững ngành thủy sản, cần áp dụng các phương pháp quản lý tài nguyên hiệu quả, đầu tư vào công nghệ mới và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.

3.1. Ứng Dụng Công Nghệ Mới Trong Nuôi Trồng Thủy Sản

Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong nuôi trồng thủy sản giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời giảm thiểu tác động đến môi trường.

3.2. Quản Lý Tài Nguyên Và Bảo Vệ Môi Trường

Cần có các chính sách quản lý tài nguyên nước và đất đai hợp lý, bảo vệ hệ sinh thái và đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành thủy sản.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Ngành Thủy Sản

Nghiên cứu và ứng dụng các mô hình phát triển bền vững trong ngành thủy sản đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.

4.1. Mô Hình Nuôi Trồng Thủy Sản Bền Vững

Các mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững đã được triển khai thành công, giúp tăng cường sản lượng và chất lượng sản phẩm, đồng thời bảo vệ môi trường.

4.2. Kết Quả Đánh Giá Tác Động Môi Trường

Đánh giá tác động môi trường từ các hoạt động thủy sản đã chỉ ra những cải thiện rõ rệt trong chất lượng nước và sức khỏe của hệ sinh thái.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Ngành Thủy Sản Tại Ninh Bình

Ngành thủy sản Ninh Bình cần tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tương lai của ngành phụ thuộc vào sự đầu tư và cải cách đồng bộ.

5.1. Định Hướng Phát Triển Ngành Thủy Sản

Cần có các định hướng phát triển rõ ràng, tập trung vào việc nâng cao giá trị gia tăng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

5.2. Vai Trò Của Cộng Đồng Trong Phát Triển Bền Vững

Cộng đồng cần được nâng cao nhận thức về phát triển bền vững, từ đó tham gia tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển ngành thủy sản.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb phát triển bền vững ngành thủy sản ninh bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận - thực tiễn của phát triển bền vững ngành thủy sản; Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng phát triển bền vững ngành thủy sản tỉnh Ninh Bình trong những năm qua; Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển bền vững ngành thủy sản tỉnh Ninh Bình. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY SẢN 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 Những tƣ tƣởng cơ bản về phát triển bền vững kinh tế - xã hội Bƣớc sang thế kỷ XXI, cuộc cách mạng KH - CN hiện đại của thế giới đang tiếp tục phát triển với nhịp điệu ngày một nhanh, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, làm thay đổi nhanh chóng, sâu sắc và quyết định đối với sự phát triển của kinh tế, xã hội và bản thân con ngƣời. KH – CN đã trở thành lực lƣợng sản xuất trực tiếp, thời gian đƣa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng ngày càng thu hẹp, vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn.

Thế giới đang hƣớng tới nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa. Bên cạnh những thành tựu rực rỡ về KH – CN, loài ngƣời cũng đang đối mặt với những thách thức to lớn về chính trị, văn hóa, xã hội và đặc biệt là môi trƣờng. Với những tác động này “Loài ngƣời đang đứng trƣớc một thời điểm quyết định của lịch sử. Thế giới phải đƣơng đầu với tình trạng ngày càng xấu đi của sự nghèo khó, đói kém, bệnh tật, thất học và sự suy thoái không ngừng của các hệ sinh thái.

Sự cách biệt giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo đang tăng lên”.[14] Sự báo trƣớc một hành tinh không thể sống do sự mở rộng quy mô công nghiệp, sự bùng nổ của dân số ở các nƣớc đang phát triển đã đƣợc tiên đoán. Năm 1962, cuốn sách cuốn sách “Mùa xuân câm lặng” của nữ văn sĩ Rachel Carson đƣợc xuất bản với những tiết lộ về những hiểm họa của thuốc trừ sâu DDT - thuốc trừ sâu mạnh nhất từng đƣợc biết đến trên thế giới, đã làm tổn thƣơng tới các hệ tự nhiên. "Mùa xuân câm lặng" đã làm thay đổi nhận thức của ngƣời dân Mỹ về môi trƣờng, góp phần thúc đẩy các chính sách về môi trƣờng của đất nƣớc này. Điều này cũng nằm trong dự đoán khoa học của học thuyết K.Mark và chính Ph.

Angghen đã chỉ rõ “thiên nhiên đã, đang nổi giận và sẽ còn nổi giận”, đồng thời Ngƣời cũng cảnh báo về sự trả thù của thiên nhiên khi bị tổn thƣơng thế hệ tƣơng lai. [32] Trƣớc nguy cơ đó, phản ứng đầu tiên là phải giảm việc sử dụng tài nguyên và sản xuất. Câu lạc bộ Rome (thành lập năm 1968) đã phát hành tài liệu “Giới hạn của sự tăng trưởng” đề nghị các nƣớc nên áp dụng chính sách “tăng trƣởng bằng không” mà lý do chính dựa vào những phân tích và dự báo rằng: càng tăng trƣởng thì môi trƣờng sinh thái và tài nguyên thiên nhiên càng bị xâm hại. Tuy nhiên, điểm sai lầm cơ bản của quan niệm 7 này là không quan tâm đến việc thỏa mãn những nhu cầu mới xuất hiện mang tính chất tất yếu khách quan.

Vì vậy, chủ chƣơng đó không đƣợc nhiều nƣớc chấp nhận. Từ những cảnh báo ngày càng tăng về những đe doạ đối với sự sống trên trái đất do chính con ngƣời gây ra. Năm 1972, hội nghị hợp quốc về môi trƣờng tại Stockholm (Thụy Điển) đã đƣợc triệu tập. Tại nguyên tắc 8 và nguyên tắc 13 trong tuyên bố của Hội nghị, khái niệm mới ra đời, đó là “phát triển tôn trọng môi sinh” với nội hàm là bảo vệ môi trƣờng, quản lý hữu hiệu tài nguyên thiên nhiên, thực hiện công bằng và ổn định xã hội.

Đây là những nhận thức đầu tiên hình thành quan niệm phát triển bền vững.1 Một số khái niệm về phát triển bền vững kinh tế - xã hội Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trƣờng và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" đƣợc định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng đƣợc những yêu cầu của hiện tại, nhƣng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau". Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trƣởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao đƣợc chất lƣợng môi trƣờng sống. 4] Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài ngƣời, vì vậy đã đƣợc các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chƣơng trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Tại Hội nghị Thƣợng đỉnh Trái đất về Môi trƣờng và phát triển đƣợc tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nƣớc tham gia.

Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trƣờng và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chƣơng trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Hội nghị khuyến nghị từng nƣớc căn cứ vào điều kiện và đặc điểm cụ thể để xây dựng 8 Chƣơng trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia, cấp ngành và địa phƣơng. Mƣời năm sau, tại Hội nghị Thƣợng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nƣớc tham gia Hội nghị đã thông qua Bản Tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững. Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trƣớc đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ Chƣơng trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.

Từ sau Hội nghị Thƣợng đỉnh Trái đất về Môi trƣờng và phát triển đƣợc tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nƣớc trên thế giới xây dựng và thực hiện Chƣơng trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 Chƣơng trình nghị sự 21 cấp địa phƣơng, đồng thời tại các nƣớc này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chƣơng trình này. Các nƣớc trong khu vực nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia.đều đã xây dựng và thực hiện Chƣơng trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.2 Một số khái niệm phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở Việt Nam Ngay từ đầu thế kỷ XX, với tầm nhìn xa trông rộng Bác Hồ đã quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ môi trƣờng sinh thái và không khí ở Việt Nam. Trong nhiều bài nói chuyện, Ngƣời đã chỉ rõ tác hại nhiều mặt, trong đó có vấn đề môi trƣờng sinh thái ở các nƣớc do chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân. Ngƣời đặc biệt quan tâm đến rừng, đất, nƣớc - những yếu tố vô cùng quan trọng, cơ bản của tự nhiên ảnh hƣởng đến sản xuất và đời sống con ngƣời.

Chúng ta cũng quen thuộc với câu nói của Bác: “Vì lợi ích mƣời năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng ngƣời”. Với phong trào “Tết trồng cây” Bác đã dự đoán:"trong mƣời năm, nƣớc ta phong cảnh sẽ ngày càng tƣơi đẹp, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn"[30, tr 556]. Có thể coi đây là quan điểm phát triển bền vững của Ngƣời. Từ quan điểm chỉ đạo của Bác, cùng với những bƣớc khởi động trên thế giới về phát triển bền vững đã tác động sâu sắc đến nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề phát triển bền vững ở nƣớc ta.

Ngay sau tuyên bố Rio, nhà nƣớc đã ban hành và tích cực thực hiện “Kế hoạch quốc gia về môi trƣờng và phát triển bền vững 1991 – 2000”. Sau đó hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống quả lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng – đăc biệt là Luật môi trƣờng (2005), tạo tiền đề cho quá trình PTBV ở Việt Nam. Quan điểm PTBV còn tiếp tục đƣợc thể hiện trong chỉ thị 36-CT/TW, ngày 26 9 tháng 08 năm 1998 của bộ chính trị về tăng cƣờng bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ CNH – HĐH đất nƣớc. PTBV tiếp tục là đƣờng lối, quan điểm của Đảng, chính sách trong thời kỳ đẩy CNH – HĐH đất nƣớc và đƣợc khẳng định trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc.

Chính phủ đã ban hành “Định hƣớng chiếc lƣợc phát triển bền vững đất nƣớc” (Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam): “Phát triển bền vững là quá trình phát triển đảm bảo công bằng nhu cầu của mọi ngƣời trong hiện tại và không ảnh hƣởng đến các thế hệ tƣơng lai, từng bƣớc thực hiện nguyên tắc: mọi mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng đều cùng có lợi. Trong đó, coi con ngƣời là trung tâm của phát triển; phát triển kinh tế kết hợp hài hòa với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ, cải thiện tài nguyên môi trƣờng phải đƣợc coi là yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực, thực hiện công nghiệp hóa sạch,… tất cả nhằm mục tiêu tổng quát là đạt đƣợc sự đầy đủ về vật chất, sự giầu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con ngƣời và tự nhiên”.[14] Đây là văn bản thể hiện đầy đủ nhất quan niệm về phát triển bền vững KT – XH ở Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là những định hƣớng chiến lƣợc lớn, làm cơ sở pháp lý, là căn cứ khung, hoạch định các kế hoạch kinh tế xã hội và các chiến lƣợc phát triển của các bộ, ngành và các địa phƣơng theo hƣớng PTBV. Nhằm cụ thể hóa thực hiện quan điểm PTBV, ngày 15/11/2004, bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm PTBV, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc “Bảo vệ môi trƣờng là vừa là mục tiêu vừa là một trong những nội dung cơ bản của PTBV… khắc phục tƣ tƣởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trƣờng.

Đầu tƣ cho môi trƣờng là đầu tƣ cho PTBV”[4]. Công tác bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ CNH – HĐH đƣợc tái khẳng định trong chiến lƣợc Phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ