CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1. QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN Quan điểm toàn diện là nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin. Quan điểm này cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong rất nhiều mối liên hệ. Vì vậy, khi nhận thức sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét nó trong các mối liên hệ với sự vật khác.
Nói cách khác, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện, chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay tính quy luật của chúng. Lênin từng chỉ rõ: “Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”[16, tr. Trong giai đoạn hiện nay, với xu thế toàn toàn cầu, sự đa dạng hóa các mối quan hệ trong mọi mặt, quan điểm toàn diện luôn mang tính thời sự. Vì vậy, nhận thức đúng về quan điểm toàn diện và vận dụng nó trong quá trình phát triển là điều vô cùng quan trọng và cần thiết.
Để hiểu một cách đúng đắn và sâu sắc về quan điểm toàn diện, phải tìm hiểu kĩ lưỡng cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện trong lịch sử triết học, đặc biệt là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin. Quan điểm toàn diện trong lịch sử triết học Trong lịch sử Triết học, trả lời cho câu hỏi: Thế giới xung quanh ta có vô vàn sự vật, hiện tượng và quá trình khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ với nhau hay không? đã có rất nhiều quan điểm khác nhau. Tựu trung lại, có thể chia thành hai nhóm quan điểm trong câu trả lời về mối liên hệ: Đó là quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng. Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng: các sự vật, hiện tượng và quá trình trong thế giới hiện thực tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia mà không có bất kỳ một sự tác động qua lại nào.
Chúng không có sự phụ thuộc, ràng buộc hay làm tiền đề cho nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những biểu hiện bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên. Đại diện nổi bật của những người theo quan điểm siêu hình về mối liên hệ có thể kể đến các nhà triết học Thomas Hobbes (1588-1679), Rene Descartes (1596-1650) và Baruch Spinoza (1632-1677). Thomas Hobbes là một nhà triết học duy vậy, đứng trên lập trường khoa học tự nhiên, thế giới quan của ông là sự giải thích duy vật cơ giới luận về giới tự nhiên và cả tâm lý của con người.
Hobbes cho rằng thế giới khách quan là tổng thể những vật thể riêng lẻ có hình dạng và quảng tính. “Vũ trụ là tổng thể mọi vật thể. Không có một bộ phận thực tại nào của nó mà lại không phải là một vật thể. Vật thể là tất cả những gì không phụ thuộc vào tư duy của chúng ta”.
Ông cho rằng, mọi sự vật hiện tượng kể cả con người có cấu tạo giống như những cái máy, bao gồm những bộ phận không có mối liên hệ với nhau, trật tự và sự vận động của chúng được áp đặt từ bên ngoài. Con người như một cơ thể sống mang tính siêu hình rõ rệt, dưới con mắt của ông trái tim con người chỉ như lò xo, dây thần kinh là những sợi chỉ, còn các khớp xương là các bánh xe làm cho cơ thể chuyển động. Luan van 9 Rene Descartes cũng đã nêu lên một số quan niệm về mối liên hệ trong thế giới. Theo ông, kể từ các sự vật nhỏ bé đến các hành tinh xa xôi đều được cấu tạo từ vật chất.
Theo tôi (Descartes), không thể chứng minh hay thậm chí hình dung được rằng có giới hạn của vật chất cấu thành thế giới. Vì khi nghiên cứu bản chất của vật chất, tôi thấy rằng hoàn toàn là ở chỗ vật chất có cảm tính về chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Như vậy tất cả những gì có ba bình diện đó là bộ phận của vật chất. Vì vậy, bản tính vật chất thế giới này là vô hạn.
Và cũng không thể có sự khác biệt về vật chất tạo thành giữa mặt trăng và trái đất. Từ đó suy ra vận động ở trên trời và dưới đất là giống nhau. Theo Descartes, thế giới lúc đầu là sự hỗn mang, thế giới của những hạt vật chất luôn trong tình trạng chuyển động hỗn loạn một cách hỗn độn khắp không gian, vũ trụ. Do trong quá trình tương tác, chúng dần dần tụ lại thành các đám mây xoáy tròn làm tụ lại các hạt vũ trụ mà Descartes gọi là Ête, các hạt này cũng đã tạo nên các hạt vật chất khác nhau, tùy theo mức độ đậm đặc của chúng mà tạo nên các dòng vật chất khác nhau như thể khí, thể lỏng, thể rắn… Cụ thể: thứ nhất, các “chất lửa” là một tên gọi ám chỉ các dạng vật chất có mức độ loãng cao nhất, bao phủ toàn bộ khoảng không vũ trụ bao la giữa các hành tinh xa xôi; thứ hai, “chất khí” tạo nên các đám mây; thứ ba, là các “chất đất” có mật độ vật chất đậm đặc nhất, tạo thành các hành tinh và các vật cứng trên trái đất chúng ta.
Vì còn chịu sự tương tác của các luồng gió xoáy trong vũ trụ, cho nên các hành tinh thường có hình cầu. Với quan điểm vật chất là nguồn gốc của mọi sự vật trong thế giới, kể cả các hành tinh. Vũ trụ không phải bất biến mà là trong một quá trình tiến hóa mang tính quy luật cái hiện hữu là cái đã xuất hiện, hiện hữu là tồn tại trong sinh thành, tất cả điều tuân theo các quy luật nội tại của vật chất. Sự sinh Luan van 10 thành diễn ra trong quá trình vận động xoáy tròn hướng tâm theo quy luật của cơ học.
Ông viết: Tôi chỉ ra bộ phận lớn nhất của vật chất trong sự hỗn loạn đó do có các quy luật cơ học đã phải bố trí một cách xác đáng như thế nào, cách mà nó đã làm cho nó giống với hành tinh của chúng ta. Một số trong các bộ phận đó đã cần cải tạo thành trái đất như thế nào, còn số khác - mặt trời và các vì sao bất động… Tiếp theo tôi chỉ ra núi, biển, nước ngầm và sông đã có thể hình thành một cách tự nhiên, kim loại có thể xuất hiện trong mỏ, cây cối có thể phát triển trên cánh đồng như thế nào. Quan niệm về con người, ông cũng đồng quan điểm với Thomas Hobbes khi đem quan niệm duy vật máy móc vào giải thích các hiện tượng của đời sống. Ông cho rằng, cơ thể con người và của động vật như một cỗ máy, cơ thể con người cũng như con vật chỉ là một bộ phận chuyển động do tác động của lửa trong tim và được điều hành bởi tinh vật, trong đó mọi cơ quan cấu kết chặt chẽ với nhau tựa như các bộ phận trong chiếc đồng hồ cơ học vậy.
Baruch Spinoza kế thừa chủ nghĩa cơ học của Descartes, đồng nhất quãng tính với vật chất. Spinoza không xem vận động và đứng im là các dạng thuộc tính mà đó chỉ là dạng thức vô hạn vì vận động và đứng im là cái vốn có trong mỗi sự vật hiện tượng, điều này đã làm lộ rõ quan điểm siêu hình phải tách rời thực thể với các dạng thức do nó tạo ra. Spinoza quan niệm thế giới là thế giới của sự tồn tại các sự vật riêng lẻ. Trên cơ sở toán học, ông mô tả toàn bộ thế giới có thể hiểu và nhận thức được bằng cách giải quyết từ phương pháp hình học.
Về bản thể luận, bên cạnh sự khẳng định thế giới là vô hạn, có tính thống nhất và toàn vẹn, trong đó có các sự vật đơn nhất luôn luôn biến đổi và có sự tác động qua lại lẫn nhau thì Spinoza cũng cho rằng: “thực chất đó chỉ là thế giới kết thúc, trong đó không diễn ra một cái gì mới”. Như Luan van 11 vậy, Spinoza đã không đứng trên một lập trường cụ thể nào mà có cả tư duy biện chứng lẫn siêu hình khi đưa ra cùng một khẳng định. Cũng giống như hai nhà triết học trên, Spinoza đã rơi vào siêu hình trong nhận thức khi tuyệt đối hóa toán học, giống như tính tất yếu của các kết luận toán học, mọi quá trình trong thế giới đều diễn ra như những tất yếu đó. Theo Spinoza, thực thể luôn mang tính đặc trưng và có tính chất riêng biệt, “mỗi bộ phận riêng biệt của thực thể vật chất toàn vẹn tất yếu phải thuộc về thực thể toàn vẹn và thực thể còn lại thì không thể tồn tại, thì không thể xem xét được”.
Thực thể là tuyệt đối và không bị hạn chế bởi bất cứ cái gì, “tồn tại hữu hạn ở trong một chừng mực nào đó là sự phủ định, còn lại tồn tại vô hạn là sự khẳng định tuyệt đối về tồn tại của một tự nhiên nào đó”. Tóm lại, thế giới của Spinoza tồn tại như một thực thể duy nhất, tồn tại bằng nguyên nhân tự nó, vì vậy Thượng đế cũng chính là thực thể, là thế giới mà thôi. Thế giới tồn tại trong thống nhất, toàn vẹn và chỉnh thể, ngoài nó ra thì trên thế giới này không còn có cái gì khác, vì thế thực thể này vô tận về mặt không gian, vô tận về mặt thời gian. Cũng thuộc quan điểm siêu hình, một số nhà triết học có thừa nhận các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, tuy nhiên giữa chúng không diễn ra được quá trình chuyển hóa lẫn nhau, giữa giới vô cơ và giới hữu cơ không có gì liên hệ lẫn nhau, không thể thâm nhập vào nhau và chúng luôn tồn tại độc lập, tạo nên một ranh giới nhất định với các sự vật khác.
Quan điểm siêu hình đã phủ nhận mọi sự biến đổi của giới tự nhiên, sự vật hiện tượng không thể có sự phát triển, nếu có chăng cũng chỉ là tương đối. Có thể thấy rằng, các nhà triết học theo quan điểm siêu hình đã không thừa nhận sự tồn tại của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhau.