Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hiếu thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Trọng Hoài và TS. Trần Tiến Khai, thuộc chuyên ngành Kinh tế Phát triển (mã số 62.01).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí trọng yếu của ngành chế biến thủy sản (CBTS) trong nền kinh tế Việt Nam. Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp từ 2,55% (năm 2001) đến 2,60% (năm 2011) vào GDP tính theo giá so sánh với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,45%/năm, giải quyết việc làm cho hơn 4 triệu lao động. Việt Nam đứng thứ tư thế giới về giá trị xuất khẩu thủy sản (sau Trung Quốc, Na Uy, Thái Lan theo FAO năm 2011) và xuất khẩu đến hơn 156 quốc gia. Tuy nhiên, ngành đang đối diện với nguy cơ phát triển thiếu bền vững trên nhiều bình diện: nguồn nguyên liệu đầu vào không ổn định (phải nhập khẩu 40% - 50% nguyên liệu tôm và khoảng 50% nguyên liệu cá ngừ; chất lượng giống cá tra suy giảm kéo dài thời gian nuôi từ 6 - 7 tháng lên 9 - 10 tháng); mức độ cạnh tranh gay gắt cùng các rào cản kỹ thuật khắt khe từ thị trường nhập khẩu (như Đạo luật Nông nghiệp 2008 của Hoa Kỳ, cảnh báo kháng sinh từ Nhật Bản, kiểm tra kỹ thuật từ Liên minh Châu Âu); ô nhiễm môi trường gia tăng do nuôi thâm canh mật độ cao và xả thải chế biến chưa qua xử lý triệt để; liên kết chuỗi giá trị lỏng lẻo dẫn đến tình trạng "được mùa mất giá"; điều kiện lao động đặc thù mang tính mùa vụ, môi trường ẩm ướt và lạnh (>80% lao động là nữ). Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là: các nghiên cứu trước đây chủ yếu phân tích riêng rẽ từng khía cạnh kinh tế, xã hội hoặc môi trường, chưa tiếp cận liên kết theo chuỗi hoạt động từ đầu vào, sản xuất - chế biến đến đầu ra, đồng thời thiếu khung phân tích tích hợp vai trò điều tiết của thể chế đối với sự tương tác giữa ba trụ cột phát triển bền vững (PTBV) ở cấp độ địa phương cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là xây dựng mô hình PTBV cho ngành CBTS Việt Nam và vận dụng để nghiên cứu điển hình ngành CBTS tỉnh Bến Tre. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Xây dựng khung phân tích và mô hình lý thuyết PTBV cho ngành CBTS Việt Nam.
  2. Vận dụng mô hình lý thuyết để đánh giá tính bền vững trong phát triển ngành CBTS tỉnh Bến Tre.
  3. Gợi ý chính sách giúp các chủ thể tham gia ngành (nông/ngư dân, cơ sở chế biến, doanh nghiệp) cải thiện hoạt động và gợi ý chính sách cho chính quyền các cấp quy hoạch, thúc đẩy ngành phát triển.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm ba câu hỏi:

  1. Để đánh giá tính bền vững phát triển ngành CBTS Việt Nam thì cần được xem xét trên những khía cạnh nào?
  2. Các khía cạnh thể hiện tính bền vững của ngành CBTS Việt Nam nói chung được biểu hiện như thế nào đối với một địa phương cụ thể tỉnh Bến Tre?
  3. Nông/ngư dân, cơ sở, hộ, doanh nghiệp chế biến cần quan tâm đến những biện pháp gì để hoạt động được bền vững hơn? Chính phủ/Chính quyền địa phương cần chú ý đến chính sách nào để quy hoạch và thúc đẩy ngành CBTS tỉnh Bến Tre phát triển bền vững?

Đối tượng nghiên cứu là các chủ thể tham gia chuỗi hoạt động ngành CBTS (nông/ngư dân khai thác và nuôi trồng, cơ sở/hộ chế biến, doanh nghiệp chế biến) và cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò điều tiết. Phạm vi không gian là ngành CBTS Việt Nam (khái quát mô hình lý thuyết) và trường hợp điển hình tại tỉnh Bến Tre. Phạm vi thời gian của dữ liệu thực nghiệm tập trung vào giai đoạn 2006 - 2012, đặt trong bối cảnh chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô 2001 - 2011.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây:

  • Lý thuyết phát triển bền vững cấp quốc gia: Xuất phát từ Hội nghị Stockholm (1972) và định nghĩa của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987) về sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không xâm hại khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, hình thành mô hình tam giác ba trụ cột: kinh tế, xã hội, môi trường. Các mô hình mở rộng sau đó gồm mô hình "Lăng kính phát triển bền vững" của Trường Wuppertal (Spangenberg và Bonniot, 1998; Valentin và Spangenberg, 1999) bổ sung khía cạnh thể chế; mô hình "Lăng kính MAIN" (Mind, Artifact, Institute, Nature) của Kain (2000); mô hình "Quả trứng phát triển bền vững" của IDRC (1997) và Busch - Lüthy (1995) đặt hệ sinh thái bao quanh đời sống con người và kinh tế - xã hội.
  • Lý thuyết phát triển bền vững cấp ngành: Nghiên cứu ngành năng lượng của Rogall (2004, 2008) và Forstner (2008) với các chỉ tiêu sinh thái, kinh tế, văn hóa - xã hội; ngành giao thông của BMU và UBA (2002), Forstner (2008); ngành khai thác khoáng sản của Hội đồng Kim loại và Môi trường Quốc tế (ICME, 1996, 2000) và dự án MMSD thuộc WBCSD với sáu vấn đề quản trị; nghiên cứu bền vững ngành sản xuất nói chung của Rogall (2008) dựa trên ba lĩnh vực hành động: bảo tồn tài nguyên, thiết kế sản phẩm và xử lý chất thải; các nghiên cứu về giới hạn tài nguyên nước (Grunwald và Kopfmuller, 2006; Milke, 2006; WBGU, 2008) và phân loại chất thải (Schenkel, 1993).
  • Lý thuyết phát triển bền vững ngành thủy sản: Lý thuyết quản lý nguồn lợi truyền thống dựa trên sản lượng bền vững tối đa MSY (Schaefer, 1954) và tổng sản lượng đánh bắt cho phép TAC, nhưng Nguyễn Chu Hồi (2002a, 2002b) chỉ ra điểm hạn chế khi áp dụng đối với nghề cá nhiệt đới đa loài, đa ngư cụ; định nghĩa của FAO (1998); khung khái niệm năm thành phần của Garcia và Staples (1999); hệ thống chỉ tiêu đánh giá ngành thủy sản Úc của Garcia và cộng sự (2000) bao quát khía cạnh kinh tế, xã hội, sinh thái và quản trị; mô hình bốn thành tố của Anthony (2001) gồm bền vững kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế; khung phân tích nghề khai thác cá tuyết Na Uy của Utne (2007); phương pháp quản lý dựa trên hệ sinh thái (Degnbol và Jarre, 2004; FAO, 1999; Fulton và cộng sự), khu bảo tồn biển MPA; và các mô hình đồng quản lý (Co-management) của Robert và Mery (2009).
  • Các công trình trong nước liên quan: Lê Thế Giới và cộng sự (2010) vận dụng mô hình của Anthony (2001) đánh giá ngành thủy sản nhưng chỉ xem xét chính sách điều tiết riêng lẻ đến ba thành tố mà chưa khảo sát tương tác nội tại và đặc trưng chuỗi chế biến; Nguyễn Thanh Vân (1998, 2000) điều tra công nghệ khai thác và chế biến tại Kiên Giang; Huỳnh Trung Hải (2004) nghiên cứu tác động môi trường và khai thác nước ngầm; Lê Quang Liêm (2007) phân tích bệnh nghề nghiệp của công nhân chế biến thủy sản đông lạnh tại Bình Định.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và lựa chọn giải quyết là: chưa có công trình khoa học nào tích hợp cấu trúc ba công đoạn hoạt động của ngành CBTS (đầu vào - sản xuất - đầu ra) với ba trụ cột PTBV (kinh tế - xã hội - môi trường), đồng thời kiểm định các mối quan hệ tương tác hai chiều giữa các trụ cột này dưới sự điều tiết của thể chế quản lý nhà nước tại một địa phương cụ thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở tích hợp lý thuyết PTBV ba trụ cột truyền thống và mở rộng thể chế (kế thừa Anthony, 2001; Wuppertal; FAO, 1998) với lý thuyết chuỗi hoạt động ngành sản xuất (Rogall, 2008). Khung phân tích được xác lập dựa trên ma trận hai chiều: chiều ngang là chuỗi ba công đoạn hoạt động (Đầu vào: khai thác và nuôi trồng; Sản xuất - chế biến: cơ sở vật chất, công nghệ, chất lượng, ATVSTP; Đầu ra: tiêu thụ nội địa và xuất khẩu) và chiều dọc là ba trụ cột bền vững (Kinh tế, Xã hội, Môi trường) cùng trụ cột Thể chế điều tiết xuyên suốt.

Quy trình nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp tuần tự gồm hai giai đoạn:

  • Giai đoạn nghiên cứu định tính: Lược khảo tài liệu, phân tích đặc trưng hoạt động ngành CBTS Việt Nam; thực hiện phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia và thảo luận nhóm tập trung (focus group) với đại diện các cơ quan quản lý, nhà khoa học và hiệp hội doanh nghiệp nhằm xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường và phát triển các giả thuyết nghiên cứu về mối tương quan giữa các trụ cột và vai trò thể chế.
  • Giai đoạn nghiên cứu thực nghiệm kiểm định: Vận dụng mô hình lý thuyết vào trường hợp điển hình tỉnh Bến Tre. Thiết kế mẫu thu thập dữ liệu sơ cấp bao gồm: điều tra mẫu hộ gia đình tham gia hoạt động đầu vào (khai thác, nuôi trồng), khảo sát toàn bộ 10 doanh nghiệp CBTS xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bến Tre và khảo sát mẫu hộ gia đình chế biến thủ công. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Bến Tre, Tổng cục Thủy sản giai đoạn 2006 - 2012.

Kỹ thuật phân tích dữ liệu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích xu hướng chuỗi thời gian, và phân tích hệ số tương quan (correlation analysis) để kiểm định các mối liên hệ giữa các công đoạn và giữa các trụ cột (như tương quan giữa sản lượng thủy sản và sản lượng chế biến; tương quan giữa công suất tàu và sản lượng khai thác; tỷ số giữa tốc độ tăng sản lượng khai thác/công suất tàu; tỷ số giữa tốc độ tăng thu nhập lao động/công suất tàu).

Nội dung chính theo từng chương

CHƢƠNG 1. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày bối cảnh thực tiễn của ngành thủy sản và CBTS ở ba cấp độ: Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và tỉnh Bến Tre, đồng thời xác lập bối cảnh lý thuyết, mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Về thực tiễn vĩ mô, tác giả tổng hợp số liệu đóng góp của ngành thủy sản giai đoạn 2001 - 2011:

TT Hạng mục 2001 2005 2010 2011 Tăng trưởng bình quân 2001-2005 Tăng trưởng bình quân 2006-2011 Tăng trưởng bình quân 2001-2011
1 GDP toàn quốc (giá thực tế - tỷ đồng) 481.439 - - - 14,91% 18,78% 16,95%
2 GDP thủy sản (giá thực tế - tỷ đồng) 17.504 - - - 16,47% 13,28% 14,85%
- Tỷ trọng GDP thủy sản so toàn quốc (GTT) 3,72% 3,93% 3,34% 3,10% - - -
3 GDP toàn quốc (giá so sánh - tỷ đồng) 292.654 - - - 7,66% 6,68% 7,22%
4 GDP thủy sản (giá so sánh - tỷ đồng) 7.279 - - - 8,12% 6,85% 7,45%
- Tỷ trọng GDP thủy sản so toàn quốc (GSS) 2,55% 2,59% 2,59% 2,60% - - -

Tại ĐBSCL, năm 2012 có 211 nhà máy CBTS đông lạnh (tăng 2,38 lần so với năm 2003) với công suất 1,27 triệu tấn/năm (tăng 2,79 lần). Vùng cung cấp 61,8% sản lượng tôm sú và 66% tôm thẻ của cả nước, mức cá biển khai thác bình quân đạt 60,7 kg/người/năm (toàn quốc là 21,4 kg/người/năm). Tuy nhiên, tổn thất sau thu hoạch lên tới 25% - 30%, chất thải rắn phát sinh khoảng 1 triệu tấn/năm và nước thải khoảng 10 triệu m3/năm.

Tại Bến Tre, tỉnh có diện tích tự nhiên 2.359,5 km2, 65 km bờ biển và 6.000 km kênh rạch. Năm 2012, diện tích nuôi đạt hơn 43.200 ha, sản lượng nuôi 226.256 tấn; đội tàu khai thác xa bờ có 1.752 chiếc, sản lượng khai thác đạt 156.000 tấn. Dù có 10 doanh nghiệp CBTS (công suất thiết kế 91.420 tấn) và hơn 100 hộ chế biến, sản lượng thành phẩm xuất khẩu chỉ đạt khoảng 25.000 tấn/năm. Sản phẩm nghèo nàn, trên 85% là cá tra fillet và nghêu nguyên con; sản lượng tôm nuôi hơn 35.000 tấn/năm hầu như không được chế biến tại tỉnh. Doanh nghiệp phụ thuộc vào công nghệ cấp đông tiếp xúc cũ kỹ; các hộ gia đình chủ yếu chế biến thủ công.

CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN BỂN VỮNG

Chương 2 hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết: lý thuyết PTBV quốc gia (tam giác PTBV, lăng kính Wuppertal, lăng kính MAIN, mô hình quả trứng); lý thuyết bền vững ngành (năng lượng, giao thông, khai khoáng, sản xuất nói chung); và lý thuyết bền vững ngành thủy sản (MSY, TAC, mô hình FAO 1998, Garcia & Staples 1999, Garcia và cộng sự 2000, Anthony 2001, Utne 2007).

Tác giả tổng hợp đặc trưng lý thuyết PTBV ngành của các tác giả quốc tế:

Ngành Đặc trưng lý thuyết phát triển bền vững Tác giả
Năng lượng Xem xét trên ba khía cạnh: kinh tế, văn hóa - xã hội và sinh thái. Nhấn mạnh sự cần thiết của công cụ pháp luật mang tính thể chế, tuy nhiên thể chế chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu; chưa xác định tương quan giữa các khía cạnh. Rogall (2004, 2008)
Giao thông Dựa trên ba khía cạnh: kinh tế, văn hóa - xã hội và hệ sinh thái. Vai trò chính trị và pháp luật đóng góp quan trọng để đạt mục tiêu hiệu quả, nhưng thể chế chưa được mô hình hóa rõ ràng. BMU & UBA (2002), Forstner (2008)
Khai khoáng Tiếp cận qua sáu vấn đề: quản lý năng lượng, thông tin khủng hoảng, đối ngoại khu mỏ, quan hệ dân bản địa, quản lý chất thải, đa dạng sinh học. Xây dựng công cụ kiểm tra, hướng dẫn kỹ thuật. ICME (1996, 2000), MMSD/WBCSD
Sản xuất chung Ba lĩnh vực hành động: bảo tồn tài nguyên, thiết kế sản phẩm và xử lý chất thải theo các nguyên tắc kinh tế học bền vững. Rogall (2008)
Thủy sản Khung phân tích gồm bốn thành tố: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế; hoặc ba khía cạnh (nghề cá tuyết) gắn với an toàn lao động, việc làm, chất lượng và phát thải. Garcia và cs (2000), Anthony (2001), Utne (2007)

Từ sự tổng hợp này, chương kết luận việc thiếu vắng một mô hình liên kết các công đoạn hoạt động với các trụ cột bền vững và thể chế, từ đó đề xuất khung phân tích nghiên cứu cho luận án.

CHƢƠNG 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu hai pha (định tính xây dựng mô hình và định lượng kiểm định thực tiễn):

  • Phương pháp định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận chuyên gia và thảo luận nhóm tập trung (focus group) với bảng hướng dẫn phỏng vấn mở để xác định danh mục các chỉ tiêu đo lường PTBV phù hợp điều kiện Việt Nam và phát triển các giả thuyết nghiên cứu.
  • Thiết kế mẫu nghiên cứu: Khảo sát mẫu hộ khai thác và nuôi trồng thủy sản; khảo sát toàn bộ 10 doanh nghiệp CBTS xuất khẩu tại Bến Tre; khảo sát chọn mẫu các cơ sở/hộ chế biến gia đình.
  • Phương pháp kiểm định mô hình điển hình: Sử dụng các công cụ thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian biến động sản lượng và giá trị, phân tích hệ số tương quan tuyến tính để kiểm định mối liên hệ giữa các công đoạn và giữa các trụ cột bền vững tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006 - 2012.

CHƢƠNG 4. MÔ HÌNH PTBV CHO NGÀNH CBTS VIỆT NAM

Chương 4 thiết lập cấu trúc ngành CBTS Việt Nam qua ba công đoạn: hoạt động đầu vào, hoạt động chế biến và hoạt động đầu ra. Trên cơ sở đó, luận án xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường PTBV cho ngành CBTS Việt Nam bao gồm:

  • Chỉ tiêu trụ cột kinh tế: Tăng trưởng giá trị sản lượng, doanh thu, tỷ suất lợi nhuận, kim ngạch xuất khẩu, đóng góp GDP, hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu sản phẩm giá trị gia tăng.
  • Chỉ tiêu trụ cột xã hội: Lao động và việc làm, cơ cấu giới tính (tỷ lệ lao động nữ), thu nhập bình quân, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm và phúc lợi xã hội, tỷ lệ tai nạn/bệnh nghề nghiệp, quan hệ với cộng đồng dân cư.
  • Chỉ tiêu trụ cột môi trường: Năng suất khai thác trên công suất tàu thuyền, tỷ lệ nhiễm chất cấm trong nguyên liệu, lượng phát thải nước thải/chất thải rắn/khí thải trên đơn vị sản phẩm chế biến, mức độ tuân thủ quy chuẩn môi trường TCVN, tỷ lệ chất thải được xử lý hoặc tái chế.

Chương này xây dựng bốn nhóm giả thuyết nghiên cứu:

  • Mối liên hệ công đoạn: Hoạt động cung ứng nguyên liệu đầu vào ổn định về số lượng và chất lượng là điều kiện tiên quyết nâng cao sản lượng chế biến, giá trị xuất khẩu và hiệu quả đầu ra.
  • Giả thuyết kinh tế - xã hội: Tăng trưởng kinh tế tạo nguồn lực nâng cao thu nhập, phúc lợi người lao động; ngược lại, chất lượng nguồn nhân lực và sự ổn định xã hội thúc đẩy năng suất và hiệu quả kinh tế.
  • Giả thuyết kinh tế - môi trường: Hoạt động khai thác và chế biến gia tăng quá mức gây suy thoái nguồn lợi tự nhiên và ô nhiễm nguồn nước; ngược lại môi trường ô nhiễm tác động tiêu cực làm sụt giảm năng suất nuôi trồng và chất lượng nguyên liệu.
  • Giả thuyết môi trường - xã hội và vai trò thể chế: Môi trường suy thoái đe dọa sinh kế, sức khỏe lao động và cộng đồng; chính sách thể chế của Nhà nước giữ vai trò trung tâm điều phối, can thiệp nhằm giảm thiểu các xung đột và cân bằng ba trụ cột.

CHƢƠNG 5. PHÂN TÍCH BỀN VỮNG CHO NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH NGÀNH CBTS TỈNH BẾN TRE

Chương 5 phân tích thực trạng tính bền vững ngành CBTS tỉnh Bến Tre trên ba trụ cột dựa trên dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra giai đoạn 2006 - 2012:

  • Trụ cột kinh tế: Đóng góp của thủy sản vào GDP tỉnh duy trì mức cao; tuy nhiên cơ cấu sản phẩm xuất khẩu bộc lộ sự mất cân đối lớn (cá tra fillet và nghêu chiếm trên 85% giá trị xuất khẩu). Phân tích tài chính tại hai doanh nghiệp tiêu biểu là Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (AQUATEX) và Công ty Cổ phần Thủy sản Thực phẩm Bến Tre (FAQUIMEX) giai đoạn 2008 - 2012 cho thấy cấu trúc vốn có tỷ lệ nợ vay cao, tỷ suất lợi nhuận biến động mạnh do giá nguyên liệu và thị trường quốc tế bất ổn. Công nghệ chế biến chủ yếu là tủ đông tiếp xúc truyền thống; các hộ chế biến gia đình hoạt động thủ công, thiếu vốn đầu tư đổi mới thiết bị.
  • Trụ cột xã hội: Lao động nuôi trồng và khai thác tăng qua các năm nhưng chủ yếu là lao động phổ thông. Trong các nhà máy CBTS, lao động nữ chiếm trên 80%, làm việc trong điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm cao. Thu nhập bình quân của công nhân nhà máy và lao động hộ chế biến tuy cải thiện nhưng chưa ổn định, tình trạng thiếu công nhân lành nghề và biến động nhân sự theo mùa vụ diễn ra thường xuyên.
  • Trụ cột môi trường: Công suất tàu thuyền khai thác tăng nhanh nhưng năng suất đánh bắt tính trên một đơn vị mã lực (CV) lại suy giảm. Diện tích nuôi trồng thâm canh mở rộng nhanh dẫn đến ô nhiễm cục bộ nguồn nước mặt do xả thải chưa qua xử lý. Tại các doanh nghiệp chế biến, lưu lượng nước thải phát sinh lớn, nhiều cơ sở chưa hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn hoặc vận hành không thường xuyên; các hộ chế biến thủ công xả trực tiếp nước thải ra hệ thống kênh rạch chung.

CHƢƠNG 6. PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC TRỤ CỘT VÀ VAI TRÕ CỦA THỂ CHẾ ĐỐI VỚI SỰ PTBV CỦA NGÀNH CBTS TỈNH BẾN TRE

Chương 6 tập trung kiểm định định lượng các mối liên hệ theo mô hình lý thuyết:

  • Mối liên hệ giữa các công đoạn: Phân tích tương quan khẳng định hệ số tương quan rất cao giữa sản lượng nuôi trồng/khai thác với sản lượng chế biến, cũng như giữa sản lượng chế biến với sản lượng thủy sản xuất khẩu của tỉnh giai đoạn 2006 - 2012.
  • Kiểm định mối quan hệ kinh tế - môi trường: Luận án tính toán tỷ số $k_1$ giữa tốc độ tăng sản lượng khai thác trên tốc độ tăng công suất phương tiện khai thác (CV). Kết quả giai đoạn 2007 - 2012 cho thấy $k_1 < 1$ và có xu hướng giảm, chứng minh dấu hiệu suy giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên ven bờ khi cường lực khai thác tăng nhanh hơn tốc độ tái tạo sinh học. Đồng thời, tốc độ tăng sản lượng chế biến tương quan thuận chiều với tốc độ gia tăng phát thải chất thải rắn và nước thải ra môi trường.
  • Kiểm định mối quan hệ xã hội - môi trường: Luận án phân tích tỷ số $k_2$ giữa tốc độ tăng thu nhập bình quân của người lao động trên tốc độ tăng công suất khai thác, phản ánh sự đánh đổi giữa gia tăng áp lực khai thác tài nguyên và cải thiện đời sống kinh tế xã hội.
  • Vai trò của thể chế: Đánh giá tác động của các quyết định, quy hoạch của UBND tỉnh và ngành Nông nghiệp Bến Tre. Các chính sách thả giống tái tạo nguồn lợi (giai đoạn 2008 - 2012) có tác động tích cực nhưng quy mô còn hạn chế. Chính sách hỗ trợ liên kết chuỗi và kiểm soát xả thải còn chậm chạp, mang tính xử lý tình thế, thiếu sự gắn kết đồng bộ giữa cơ quan quản lý nông nghiệp, môi trường và thương mại.

CHƢƠNG 7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH PTBV NGÀNH CBTS TỈNH BẾN TRE

Chương cuối tổng kết các kết quả nghiên cứu và đề xuất hệ thống giải pháp chính sách toàn diện:

  • Đề xuất bốn nhóm chính sách cho chính quyền các cấp:
    • Nhóm 1 - Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước: Tăng cường liên kết chuỗi giá trị; tích hợp quy hoạch nuôi trồng, chế biến gắn với đánh giá sức tải môi trường; rà soát và thực thi nghiêm các tiêu chuẩn kỹ thuật ATVSTP.
    • Nhóm 2 - Cải thiện tính bền vững kinh tế: Khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm chế biến, đầu tư công nghệ chế biến sâu để tận dụng sản lượng tôm sẵn có của tỉnh; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường mới, xây dựng thương hiệu thủy sản Bến Tre.
    • Nhóm 3 - Cải thiện tính bền vững xã hội: Đào tạo nâng cao tay nghề lao động kỹ thuật; thực hiện nghiêm các quy chuẩn an toàn vệ sinh lao động, cải thiện môi trường làm việc trong kho lạnh; hoàn thiện chính sách bảo hiểm và nhà ở cho công nhân.
    • Nhóm 4 - Cải thiện tính bền vững môi trường: Kiểm soát chặt chẽ việc xả thải tại các nhà máy chế biến và vùng nuôi thâm canh; xử lý phụ phẩm (vỏ tôm, mỡ cá, xương cá) theo hướng kinh tế tuần hoàn; quy định kiểm soát công suất tàu đánh bắt ven bờ, đẩy mạnh chương trình tái tạo nguồn lợi thủy sản.
  • Đề xuất khuyến nghị hành động cụ thể cho người nuôi, ngư dân khai thác và các doanh nghiệp, hộ chế biến.
  • Nêu rõ các đóng góp khoa học, đóng góp thực tiễn, hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  • Đóng góp về mặt khoa học:
    • Luận án đã xây dựng khung phân tích và mô hình lý thuyết PTBV đặc thù cho ngành CBTS bằng cách tích hợp chuỗi hoạt động ba công đoạn (đầu vào - chế biến - đầu ra) với ba trụ cột bền vững (kinh tế - xã hội - môi trường) và trụ cột thể chế điều tiết.
    • Thiết lập hệ thống chỉ tiêu đo lường tính bền vững định lượng và định tính phù hợp với các đặc thù công nghệ, chuỗi cung ứng của ngành CBTS Việt Nam.
    • Xác lập và kiểm định mối quan hệ tương tác hai chiều giữa các trụ cột bền vững (đặc biệt là mối liên hệ đánh đổi giữa cường lực khai thác/công suất với năng suất sinh học $k_1$, và tốc độ tăng thu nhập với năng lực phương tiện $k_2$).
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về ngành CBTS Bến Tre giai đoạn 2006 - 2012, chỉ ra nghịch lý mất cân đối cơ cấu sản phẩm (sản lượng tôm lớn nhưng không chế biến, lệ thuộc cá tra và nghêu) và áp lực môi trường từ nước thải chế biến.
    • Cung cấp căn cứ thực chứng giúp UBND tỉnh Bến Tre, Sở NN&PTNT và các cơ quan hoạch định chính sách điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành CBTS theo hướng liên kết chuỗi giá trị và bảo vệ nguồn lợi tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án chỉ ra các hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo:

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực nghiệm điển hình mới chỉ thực hiện tại tỉnh Bến Tre trong khung thời gian 2006 - 2012, chưa mở rộng so sánh liên tỉnh trên toàn vùng ĐBSCL.
    • Kỹ thuật phân tích định lượng chủ yếu dừng ở thống kê mô tả, phân tích chuỗi biến động và hệ số tương quan tuyến tính đơn giản; chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng phức hợp (như mô hình phương trình cấu trúc - SEM hoặc hồi quy đa biến đồng thời) để lượng hóa trọng số chính xác của từng biến số chính sách.
    • Dữ liệu về dòng phát thải và chất thải tại các hộ gia đình chế biến thủ công còn thiếu hệ thống đo đạc quan trắc liên tục, chủ yếu dựa trên khảo sát điều tra xã hội học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi kiểm định mô hình lý thuyết sang các địa phương trọng điểm thủy sản khác tại ĐBSCL (Cà Mau, Kiên Giang, An Giang) và các tỉnh duyên hải miền Trung.
    • Ứng dụng các công cụ kinh tế lượng nâng cao nhằm lượng hóa mức độ tác động biên của từng chính sách thể chế đến tính bền vững của ngành.
    • Nghiên cứu sâu hơn về các công cụ tài chính sinh thái, thuế môi trường và cơ chế định giá chất thải trong chuỗi giá trị CBTS.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế Phát triển, Kinh tế Nông nghiệp, Quản lý Kinh tế và Quản lý Tài nguyên - Môi trường. Phần đáng tham khảo nhất là khung phân tích ma trận công đoạn - trụ cột (Chương 2 và Chương 4) và hệ thống chỉ tiêu đo lường PTBV ngành sản xuất.
  • Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Thủy sản, UBND và Sở NN&PTNT các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL. Phần đáng tham khảo là hệ thống 4 nhóm giải pháp thể chế, phương pháp phân tích tỷ số $k_1, k_2$ để kiểm soát cường lực đánh bắt và bảo vệ môi trường sinh thái (Chương 6 và Chương 7).
  • Hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp CBTS: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), ban lãnh đạo các doanh nghiệp CBTS xuất khẩu. Phần đáng chú ý là các phân tích về sự mất cân đối cơ cấu sản phẩm, áp lực rào cản kỹ thuật quốc tế và các giải pháp liên kết chuỗi cung ứng nguyên liệu sạch.

Câu hỏi thường gặp

1. Những điểm nghẽn chính về nguyên liệu đầu vào của ngành CBTS Việt Nam được chỉ ra trong luận án là gì? Luận án chỉ ra ba điểm nghẽn lớn: nguồn cung tôm và cá ngừ thiếu ổn định dẫn đến việc các doanh nghiệp phải nhập khẩu 40% - 50% nguyên liệu tôm (chi phí 270 - 350 triệu USD/năm) và 50% nguyên liệu cá ngừ; chất lượng giống cá tra suy giảm khiến thời gian nuôi thương phẩm kéo dài từ 6 - 7 tháng lên 9 - 10 tháng để đạt trọng lượng 0,9 - 1,2 kg/con; và tình trạng dịch bệnh trên tôm nuôi diễn ra trên diện rộng (năm 2012 diện tích nuôi tôm tăng 0,2% nhưng sản lượng giảm 3,9%).

2. Tại sao luận án nhận định ngành CBTS tỉnh Bến Tre phát triển chưa tương xứng với tiềm năng? Mặc dù tỉnh có diện tích nuôi thủy sản hơn 43.200 ha (sản lượng nuôi đạt 226.256 tấn) và đội tàu khai thác xa bờ 1.752 chiếc (sản lượng khai thác đạt 156.000 tấn vào năm 2012), toàn tỉnh có 10 doanh nghiệp chế biến với tổng công suất thiết kế 91.420 tấn nhưng sản lượng xuất khẩu thực tế chỉ đạt khoảng 25.000 tấn/năm. Cơ cấu sản phẩm nghèo nàn khi cá tra fillet và nghêu chiếm trên 85% giá trị xuất khẩu; trong khi đó sản lượng tôm nuôi của tỉnh đạt trên 35.000 tấn/năm lại không được các nhà máy trong tỉnh chế biến.

3. Tỷ số $k_1$ trong Chương 6 phản ánh điều gì về mặt sinh thái và kinh tế? Tỷ số $k_1$ được định nghĩa là tỷ số giữa tốc độ tăng sản lượng khai thác thủy sản trên tốc độ tăng công suất phương tiện khai thác (đo bằng CV). Kết quả phân tích giai đoạn 2007 - 2012 cho thấy $k_1 < 1$ và có xu hướng suy giảm qua các năm, phản ánh quy luật năng suất cận biên giảm dần do áp lực khai thác vượt quá khả năng phục hồi tự nhiên của nguồn lợi thủy sản, dẫn đến suy giảm trữ lượng nguồn lợi ven bờ.

4. Mô hình lý thuyết PTBV của luận án có điểm khác biệt căn bản nào so với mô hình của Anthony (2001)? Mô hình của Anthony (2001) chỉ dừng lại ở việc liệt kê bốn thành tố độc lập (kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế) mang tính tổng quát cho ngành thủy sản. Luận án của Nguyễn Văn Hiếu đã lồng ghép bốn thành tố này vào ma trận ba công đoạn của chuỗi hoạt động chế biến (đầu vào - chế biến - đầu ra), đồng thời xác lập và kiểm định mối quan hệ tương tác hai chiều giữa các trụ cột dưới sự điều tiết của thể chế.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chính sách trọng tâm nào cho tỉnh Bến Tre? Luận án đề xuất bốn nhóm chính sách cho chính quyền: (1) Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước và liên kết chuỗi; (2) Chính sách kinh tế hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu sản phẩm sang chế biến sâu, đầu tư công nghệ cấp đông hiện đại và chế biến tôm tại chỗ; (3) Chính sách xã hội nâng cao kỹ năng lao động, bảo hộ lao động và cải thiện an sinh cho công nhân nhà máy; (4) Chính sách môi trường siết chặt quy chuẩn xử lý nước thải, kiểm soát công suất tàu khai thác và đẩy mạnh thả giống tái tạo nguồn lợi thủy sản.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hiếu (2014) đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu lý thuyết bằng cách tích hợp chuỗi ba công đoạn hoạt động với ba trụ cột phát triển bền vững và vai trò thể chế điều tiết trong ngành chế biến thủy sản. Thông qua trường hợp điển hình tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006 - 2012, công trình đã kiểm định các mối quan hệ tương tác giữa tăng trưởng kinh tế, áp lực môi trường sinh thái và an sinh xã hội, làm rõ thực trạng mất cân đối cơ cấu mặt hàng và suy giảm năng suất khai thác tự nhiên. Hệ thống bốn nhóm giải pháp chính sách và khuyến nghị được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích cho việc quy hoạch, quản trị phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản tại Bến Tre cũng như các địa phương ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long.