CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÔ THỊ VEN BIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đô thị Đô thị là nơi tập trung dân cư sinh sống trong một khu vực không gian có giới hạn và tiến hành các hoạt động kinh tế không gắn trực tiếp với đất đai. Cơ cấu kinh tế của đô thị gồm dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp nhưng tỷ trọng nông nghiệp rất nhỏ.
Mỗi đô thị là một trung tâm với những chức năng riêng như: trung tâm hành chính; trung tâm công nghiệp; trung tâm giao thông, logistic; trung tâm tài chính… và trung tâm đa chức năng [17, 27, 20]. Xét về khía cạnh kinh tế, đô thị được coi là một điểm nút, là cỗ máy tối đa hóa lợi ích thông qua tiết kiệm chi phí giao thông vận tải; giảm thiểu thất thoát thông tin và tiết kiệm chi phí truyền tin; tiết kiệm tương đối chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng; khai thác tính kinh tế nhờ quy mô trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa [20]. Việc xác định phạm vi không gian phát triển và phân loại chất lượng hạ tầng đô thị nhằm hỗ trợ công tác QLNN về PTĐT, duy trì mối quan hệ đô thị và nông thôn, đảm bảo hướng tới PTBV. Đô thị được phân loại nhằm phục vụ hoạt động QLNN về đô thị nói chung và PTĐT nói riêng.
Ba tiêu chí quan trọng nhất mà các quốc gia đều sử dụng để nhận biết và phân loại đô thị là: quy mô dân số đô thị; chức năng đô thị (thường được cụ thể hóa bằng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp); không gia kiến trúc, phong cảnh (thường được cụ thể hóa bằng mật độ dân cư đô thị) [20]. Đô thị ở Việt Nam đang được phân làm 6 loại đô thị, gồm đô thị từ loại I đến loại V và đô thị loại đặc biệt theo 5 tiêu chí: quy mô dân số; mật độ dân số; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan [27]. Khái niệm hệ thống Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua 8 lại lẫn nhau một cách có quy luật để tạo thành một chỉnh thể thống nhất (nhất thể), từ đó làm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là tính trồi, đảm bảo thực hiện được những chức năng hay mục tiêu nhất định [39]. Đặc điểm của một hệ thống: + Có nhiều bộ phận (phần tử) hợp thành; Mỗi phần tử hoạt động theo chức năng và quy luật riêng.
+ Các bộ phận (phần tử) có quan hệ tác động với nhau theo một quy luật nhất định; + Các bộ phận (phần tử) phối hợp thành một thể thống nhất (nhất thể) có các tính chất hay đặc trưng thực hiện các chức năng mà các phần tử riêng lẻ không có hoặc không thể thực hiện được. + Một hệ thống chỉ có thể tồn tại và phát triển bình thường khi nó gắn bó chặt chẽ với môi trường xung quanh nó (hệ thống mở). Tính chất của hệ thống: + Mối quan hệ giữa các phần tử của hệ thống là mối quan hệ biện chứng; + Bất cứ một sự thay đổi về lượng (cũng như về chất) của mỗi phần tử đều có thể dẫn đến sự thay đổi về lượng (cũng như về chất) của các phần tử ngang hàng của hệ thống và cả hệ thống (và ngược lại). + Khi sắp xếp các phần tử của hệ thống theo một cách thức nào đó sẽ tạo ra khả năng mới của hệ thống (còn gọi là tính trồi) mà các phần tử riêng rẽ không thể có được.
Quản lý hệ thống hay điều khiển hệ thống là quá trình tác động liên tục lên hệ thống để hướng hành vi của nó tới mục tiêu đã định trong điều kiện môi trường luôn biến động: tối ưu hóa. Khái niệm hệ thống đô thị Trong quá trình phát triển, các đô thị không đứng riêng rẽ mà thường có sự tương tác với nhau, đặc biệt là về hoạt động kinh tế đô thị. Sự tương tác này là cơ sở để hình thành nên HTĐT. HTĐT chính là hệ thống vị trí trung tâm.
Trung tâm là nơi có chức năng cung cấp hàng hóa và dịch vụ ra xung quanh nó. Theo lý thuyết Hệ thống vị trí trung tâm của Walter Christaller thì hệ thống vị trí trung tâm là một hệ thống tầng bậc, trong đó có trung tâm bậc cao cung cấp những hàng hóa có giá trị lớn, tần suất mua hàng thưa, miền tiêu thụ rộng và trung tâm bậc thấp cung cấp những 9 hàng hóa có giá trị nhỏ, tần suất mua hàng mau, miền tiêu thụ hẹp [20]. Tùy thuộc vào không gian lãnh thổ được xem xét mà có nhiều HTĐT khác nhau. Mỗi quốc gia đều có HTĐT quốc gia; mỗi vùng lãnh thổ đều có HTĐT vùng.
HTĐT (tên tiếng Anh là megalopolis đôi khi được gọi là megaregion) là một dải lãnh thổ nối liền nhau có nhiều đô thị phần tử với các quy mô đô thị khác nhau. HTĐT có mật độ cao các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội, giao thông vận tải để kết nối các đô thị phần tử với nhau. HTĐT lấy không gian kinh tế làm gốc hỗ trợ, tương tác qua lại, liên kết tổ chức ngành nghề tạo thành một hệ thống kinh tế có quy mô lớn, điều hòa lẫn nhau và cùng phát triển. HTĐT cần có một chủ thể quản lý định hướng, quản lý thống nhất với các thể chế, chính sách đồng nhất để hình thành thị trường có quy mô cạnh tranh.
Khái niệm đô thị ven biển Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 xác định ven biển là nơi đất liền và biển tiếp giáp nhau. ĐTVB có thể được hiểu là đô thị nằm ở vùng ven biển hoặc đô thị có diện tích nằm trong vùng chịu tác động chính từ sự phát triển của kinh tế biển [45]. Trong nghiên cứu này, ĐTVB được hiểu bao gồm cả đô thị nằm trong phạm vi quản lý hành chính của các tỉnh ven biển, bao gồm cả các đô thị nằm trên các hải đảo do tính chất thống nhất trong QLNN về lãnh thổ. Khái niệm hệ thống đô thị ven biển HTĐTVB là một HTĐT bao gồm các phần tử là các ĐTVB.
Các phần tử trong HTĐTVB có quan hệ mật thiết và tương hỗ với nhau về các hoạt động KT-XH – môi trường (sản xuất, lao động, dịch vụ, nghỉ ngơi, giải trí…) và cùng có các đặc điểm của ĐTVB. HTĐTVB là một phần của HTĐT quốc gia, thừa kế toàn bộ các thuộc tính của HTĐT quốc gia nhưng có thêm một số thuộc tính nổi trội do điều kiện đặc biệt ven biển mang lại. HTĐTVB là một hệ thống mở, nó tương tác với các vùng nội địa và các thị trường quốc tế thông qua đường biển, đặc biệt là các hoạt động kinh tế. Do đó HTĐTVB đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của các hành lang giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không không những liên kết các phần tử trong hệ thống với nhau mà còn liên kết với các vùng nội địa và các thị trường quốc tế.
Khái niệm về phát triển Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn [10]. Khái niệm phát triển bền vững Phát triển bền vững (PTBV) là một quan điểm phát triển đang từng bước gây ảnh hưởng và làm thay đổi chính sách phát triển KT-XH trên phạm vi toàn cầu.
Thuật ngữ "phát triển bền vững - sustainable development" được đề cập lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn Thế giới” (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Khái niệm PTBV được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Tương lai chung của chúng ta - Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) [78]. Theo đó, “PTBV là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.1: Quan điểm phát triển bền vững Nguồn: [78] 11 Theo Luật Bảo vệ môi trường (2005) của nước ta: “PTBV là phát triển đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” [16]. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý là sự tác động liên tục, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng mọi tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu chung của tổ chức một cách tốt nhất.
QLNN ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Đây là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người. Có thể nói QLNN là sự tác động (sự chỉ huy, điều khiển) của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực thi quyền lực nhà nước nhằm tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân. QLNN là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm ổn định kinh tế, chính trị, xã hội và phát triển đất nước theo các mục tiêu mà nhà nước xác định.
QLNN được thể hiện thông qua hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất.