Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Năm 2009, nghệ thuật ca trù được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Theo quy định của Công ước UNESCO năm 2003, các di sản thuộc danh sách này cần có biện pháp bảo tồn để từng bước chuyển sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhằm thực hiện cam kết quốc tế, năm 2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công bố Chương trình hành động Quốc gia bảo vệ ca trù giai đoạn 2010–2015 gồm 6 nội dung trọng tâm. Trong đó, nội dung số 2 nhấn mạnh việc tạo điều kiện cho cộng đồng giao lưu, trình diễn, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm nhằm bảo vệ và phát huy tính đa dạng văn hóa.

Về phương diện khoa học, tác giả nhận định các công trình nghiên cứu ca trù từ trước đến nay hầu như chỉ tập trung vào khía cạnh nghệ thuật, âm nhạc học hoặc lịch sử. Ngược lại, những hệ thống lý thuyết liên quan đến sự biến đổi, mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với thiết chế văn hóa cơ sở như các giáo phường hay câu lạc bộ (CLB) vẫn còn khoảng trống lớn. Về mặt thực tiễn, sau khi ca trù có danh hiệu di sản, các CLB và giáo phường tại khu vực nội thành Hà Nội đã chủ động đưa ca trù vào hoạt động biểu diễn phục vụ du khách và công chúng. Tuy nhiên, hoạt động này diễn ra tự phát, manh mún, thiếu định hướng phát triển bài bản và chịu áp lực từ cơ chế thị trường. Do đó, luận án được thực hiện nhằm giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn bản sắc di sản và phát huy giá trị qua hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của các CLB, giáo phường tại Thủ đô Hà Nội.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể như sau:

  1. Xây dựng một công trình khoa học có giá trị áp dụng vào thực tiễn, góp phần cùng các cấp, các ngành, các chuyên gia, các nghệ nhân, các CLB, giáo phường nhận diện thực tế biểu diễn nghệ thuật ca trù hiện nay để đưa ra những vấn đề trọng tâm cần bàn luận và hướng phát triển bền vững giá trị di sản ca trù tại Hà Nội.
  2. Đánh giá hiện trạng, đề xuất, bàn luận mô hình hoạt động biểu diễn cụ thể cho các CLB, giáo phường nội thành Hà Nội và một số bàn luận, kiến nghị, giải pháp phù hợp để vừa đáp ứng được yêu cầu về bảo tồn, giữ gìn bản sắc di sản văn hóa, vừa phát huy được giá trị di sản thông qua các hoạt động biểu diễn của chính các CLB, giáo phường đó.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Sự biến đổi về hình thức tổ chức hoạt động (trong đó có hoạt động biểu diễn) ở mỗi cộng đồng làng, thôn, CLB, giáo phường tại Hà Nội nói chung và một số CLB, giáo phường nội thành nói riêng hiện nay so với các giai đoạn trước đây là như thế nào, qua đó đưa ra những vấn đề cần bàn luận gì để phù hợp với sự biến đổi đó?
  2. Các CLB, giáo phường ca trù trong khu vực nội thành Hà Nội phải làm gì để bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù để phù hợp với những biến đổi của các tổ chức CLB, giáo phường trong bối cảnh xã hội hiện đại giữa lòng Thủ đô?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù và những biến đổi của các CLB, giáo phường tại Hà Nội thông qua hoạt động biểu diễn. Đối tượng khảo sát cụ thể là các CLB, giáo phường ca trù trong phạm vi nội thành Hà Nội, tập trung chủ yếu vào ba đơn vị: CLB ca trù Hà Nội, CLB ca trù Thái Hà và Giáo phường ca trù Thăng Long.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu tại khu vực nội thành Hà Nội, đồng thời có sự khảo sát, so sánh đối chiếu với các làng, thôn ca trù truyền thống ở ngoại thành Hà Nội và một số địa phương phụ cận.
  • Phạm vi thời gian: Luận án sử dụng các nguồn tư liệu lịch sử không giới hạn mốc thời gian để nghiên cứu quá trình hình thành ca trù; số liệu thống kê được thu thập từ năm 2009 (thời điểm nhận bằng của UNESCO) đến năm 2015; các cuộc điều tra điền dã, phỏng vấn sâu, khảo sát bảng hỏi được triển khai tập trung trong hai năm 2013–2014; phương pháp phỏng vấn hồi cố được áp dụng để khôi phục dữ liệu giai đoạn trước năm 2010.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu và công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm nguồn sau:

  • Tư liệu Hán Nôm và thư tịch cổ: Luận án trích xuất dữ liệu từ các văn bản kinh điển như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và công trình Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề (1962). Các nguồn này cung cấp cứ liệu về nguồn gốc nghề hát, tổ chức ty giáo phường thời Lê Sơ, quy chế thưởng thẻ trù và sự thịnh suy của các nhà hát cô đầu. Ngoài ra, tác giả điểm lại các bài khảo cứu trên Tạp chí Nam Phong của Nguyễn Đôn Phục về phong tục đào nương.
  • Các công trình nghiên cứu văn học và nghệ thuật âm nhạc ca trù: Các tác phẩm như Tuyển tập thơ ca trù của Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú; Ca trù nhìn từ nhiều phía và Hát nói Nguyễn Công Trứ của Nguyễn Đức Mậu; các bài nghiên cứu về nghệ thuật hát ả đào của GS. Trần Văn Khê. Bên cạnh đó là Hồ sơ Quốc gia đệ trình UNESCO công nhận ca trù (xây dựng giai đoạn 2006–2009) do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam chủ trì.
  • Các luận án tiến sĩ và hội thảo khoa học chuyên biệt:
    • Luận án tiến sĩ Nguồn tư liệu Hán Nôm với việc nghiên cứu ca trù của Nguyễn Xuân Diện (bảo vệ năm 2007).
    • Luận án tiến sĩ Lịch sử và âm nhạc của ca trù của Aliénor Anisensel (bảo vệ năm 2012 tại Đại học Paris Ouest-Nanterre, Pháp, do GS. Trần Văn Khê và GS. Trần Quang Hải hướng dẫn).
    • Luận văn thạc sĩ Đào nương và nghệ thuật hát ca trù của Lê Thị Bạch Vân (Chủ nhiệm CLB ca trù Hà Nội).
    • Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Hát ca trù người Việt (Hà Nội, 2006) với các tham luận của GS. Trần Văn Khê, TS. Yves Defrance, GS. Trần Quang Hải, TS. Bountheng Souksavatd, GS. Gisa Jähnichen, TS. Barley Norton và TS. Aliénor Anisensel.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận ca trù ở góc độ thư tịch Hán Nôm, lịch sử phát triển, đặc trưng âm nhạc dân tộc học hoặc phân tích thi pháp văn học của thể hát nói. Chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản với hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các thiết chế CLB, giáo phường tại đô thị Hà Nội. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích sự biến đổi của mô hình tổ chức, nghiên cứu thực nghiệm hoạt động biểu diễn phục vụ du khách và đánh giá phản hồi từ khán giả, từ đó đề xuất mô hình biểu diễn thích ứng với bối cảnh xã hội đương đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết chuyên ngành Văn hóa học kết hợp liên ngành:

  • Tiếp cận văn hóa dân gian và nhân học văn hóa: Xem xét ca trù như một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian gắn với cộng đồng chủ thể. Khảo sát giáo phường từ góc độ phường hội truyền thống và sự chuyển dịch không gian văn hóa.
  • Tiếp cận xã hội học văn hóa: Coi các CLB, giáo phường ca trù là những thiết chế xã hội mang chức năng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cộng đồng. Đánh giá hoạt động biểu diễn thông qua nhu cầu, thị hiếu của các nhóm công chúng và vai trò của nghệ nhân.
  • Lý thuyết bảo tồn dựa trên kế thừa và phát triển: Tiếp cận di sản văn hóa phi vật thể dưới dạng "di sản sống", có tính biến đổi liên tục theo thời gian, không thể áp dụng các tiêu chí bảo tồn nguyên trạng cứng nhắc như di sản vật thể.
  • Lý thuyết phát triển bền vững: Đảm bảo việc khai thác giá trị di sản trong hiện tại phục vụ phát triển văn hóa - du lịch không làm suy giảm hoặc tổn hại đến khả năng lưu truyền nguyên vẹn giá trị di sản cho các thế hệ tương lai.
  • Hệ hình xung đột và hợp tác (conflict/co-operation dichotomy): Phân tích mối quan hệ giữa bảo vệ di sản văn hóa và hoạt động thương mại hóa du lịch, chỉ ra các xung đột về mục tiêu giữa nhà quản lý di sản, nghệ nhân và doanh nghiệp lữ hành, từ đó tìm kiếm cơ chế hợp tác cân bằng.
  • Hệ thống khái niệm chuyên ngành: Luận án định nghĩa và phân loại chuẩn xác các khái niệm: Di sản văn hóa (theo ICOMOS 1966, Công ước UNESCO 2003, Luật Di sản văn hóa sửa đổi 2009); Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp; Quản lý di sản văn hóa; Báu vật nhân văn sống (Living Human Treasures); Nghệ thuật biểu diễn; Biến đổi văn hóa. Về mặt chuyên môn ca trù, luận án phân tích các danh xưng lịch sử (hát ả đào, hát ca trù, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát nhà trò, hát nhà tơ, hát cô đầu, hát ca công), các thiết chế (quản giáp, giáo phường, ty giáo phường, CLB), nhân sự diễn xướng (đào nương/ca nương, kép đàn, quan viên cầm chầu) và bộ ba nhạc cụ chuyên biệt (cỗ phách, đàn đáy, trống chầu).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp liên ngành với các kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu: Phân tích các tài liệu Hán Nôm, văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ di sản UNESCO và các công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa ca trù.
  • Phương pháp quan sát tham dự: Nghiên cứu sinh trực tiếp tham dự các buổi biểu diễn ca trù tại các điểm diễn ở nội thành Hà Nội (87 Mã Mây, 28 Hàng Buồm, Bích Câu đạo quán, đền Quan Đế) nhằm ghi nhận quy trình tổ chức, không gian diễn xướng và thái độ tiếp nhận của khán giả.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và hồi cố: Phỏng vấn trực tiếp các nghệ nhân lão thành, nghệ sĩ biểu diễn, chủ nhiệm các CLB, giáo phường, các nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền và cán bộ quản lý văn hóa - du lịch tại Hà Nội. Áp dụng kỹ thuật phỏng vấn hồi cố đối với nghệ nhân để khôi phục sinh hoạt ca trù giai đoạn trước năm 2010.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (xã hội học): Khảo sát thực địa với tổng quy mô 500 phiếu điều tra:
    • Nhóm 1: 200 phiếu khảo sát du khách (gồm cả khách quốc tế và khách trong nước) trực tiếp xem biểu diễn ca trù tại các CLB, giáo phường nội thành.
    • Nhóm 2: 300 phiếu khảo sát nhóm đối chứng (người dân và giới trẻ trên địa bàn Hà Nội chưa đến các CLB, giáo phường ca trù).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương này dành 51 trang để xây dựng khung lý luận và phác thảo diện mạo lịch sử ca trù. Tác giả phân tích tiến trình lịch sử qua các mốc quan trọng:

  • Thời Tiền Lê (năm 987), Thiền sư Khuông Việt chế khúc hát tiễn sứ thần nhà Tống Lý Giác, đặt nền móng cho lối sáng tác "bẻ làn nắn điệu".
  • Thời Lý (năm 1025), Vua Lý Thái Tổ định ra quy chế quản giáp và ả đào, đánh dấu lần đầu tiên nghề ca xướng được nhà nước phong kiến thừa nhận và tổ chức thành phường hội.
  • Thời Lê Sơ (năm 1437), Lương Đăng định ra quy chế lễ nhạc, triều đình cấm dùng tục nhạc song song với nhã nhạc, dẫn đến việc sinh hoạt giáo phường chia tách thành Nhạc bát âm và Hát ả đào dân gian. Bộ Lễ thành lập ty giáo phường trông coi dân nhạc. Văn hóa đình làng phát triển kéo theo hình thức hát cửa đình.
  • Cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, tục nhạc quay lại chốn triều chính, lôi cuốn giới nho sĩ tham gia, khai sinh thể hát nói có tác giả.
  • Nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, quá trình đô thị hóa dẫn đến sự bùng nổ của các nhà hát cô đầu tại Hà Nội (Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, Cầu Giấy, Gia Lâm). Việc xuất hiện thành phần "cô đầu rượu" làm biến thái môi trường nghệ thuật, gây định kiến xã hội. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, hệ thống nhà hát đóng cửa, ca trù bước vào giai đoạn suy thoái kéo dài.
  • Từ thập niên 1970–1980, ca trù bắt đầu được khôi phục nhờ các nghệ nhân: Quách Thị Hồ, Phạm Thị Mùi, Nguyễn Thị Phúc, Đinh Thị Bản, Phó Thị Kim Đức, kép đàn Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Phú Đẹ. Ngày 28/4/1991, CLB ca trù Hà Nội thành lập, mở đầu cho việc tái cơ cấu tổ chức dưới hình thức CLB.

Luận án thống kê danh mục các đơn vị hoạt động ca trù tiêu biểu trên địa bàn Hà Nội qua Bảng 1:

Tên CLB / Giáo phường ca trù Địa chỉ hoạt động Thời gian thành lập Người đứng đầu / Đặc điểm tổ chức
Giáo phường ca trù Thái Hà (CLB ca trù Thái Hà) Phố Thái Hà và số 27 Thụy Khuê TK XIX (ra mắt CLB năm 1993) Nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi (đời thứ 7 dòng họ ca công Thái Hà); có nhà thờ tổ
Giáo phường ca trù Lỗ Khê Xã Liên Hà, huyện Đông Anh Thế kỷ XV Tổ nghề truyền đời từ TK XV; có đình thờ ca công
Giáo phường ca trù Phượng Cách Xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai Thế kỷ XVIII Tổ nghề truyền đời từ TK XVIII; có đình thờ ca công
Giáo phường ca trù Phú Đô Quận Nam Từ Liêm Thế kỷ XVII Tổ nghề truyền đời từ TK XVII; có đình thờ ca công
CLB ca trù thôn Đồng Trữ Xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ 2005 Truyền đời từ năm 1880; có Quán Đồng Trữ thờ Tổ mẫu ca trù
CLB ca trù Thượng Mỗ Xã Thượng Mỗ, huyện Đan Phượng TK XVIII (thành lập lại 2005) Dòng họ truyền đời từ thế kỷ XVIII
CLB Bích Câu đạo quán 14 phố Cát Linh 1991 Nghệ sĩ Bạch Vân làm Chủ nhiệm (đã dừng hoạt động tại điểm này)
CLB ca trù Hà Tây Hà Đông 1995 Do Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây cũ thành lập (đã dừng hoạt động)
CLB ca trù UNESCO Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 14/07/2000 Nhóm nghệ nhân dân gian phối hợp tổ chức (hoạt động không thường xuyên)
CLB Ngãi Cầu Xã An Khánh, huyện Hoài Đức 2004 Nghệ nhân truyền đời trong làng
CLB ca trù Yên Nghĩa Phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông 2005 Dòng họ truyền đời; có miếu thờ tổ nghề
CLB ca trù Đông Duyên Xã Đông Duyên, huyện Thường Tín 2005 Dòng họ truyền đời trong thôn
Trung tâm văn hóa ca trù Thăng Long 25 Tông Đản 2006 Nhóm nghệ nhân (đã dừng hoạt động)
CLB ca trù Chanh Thôn Huyện Phú Xuyên 2007 Nghệ nhân Nguyễn Thị Ngoan làm Chủ nhiệm
Giáo phường ca trù Thăng Long 87 Mã Mây (chuyển về 28 Hàng Buồm năm 2015) 2010 Nghệ sĩ Phạm Thị Huệ phụ trách

Cũng trong chương này, tác giả phân tích đặc trưng bộ ba nhạc cụ của nghệ thuật ca trù:

  • Cỗ phách: Gồm bàn phách bằng gỗ hoặc tre và hai dùi gõ (phách cái đầu tròn hơi nhọn, phách con tròn chẻ đôi). Gõ theo 5 khổ quy định, tạo âm thanh âm - dương, mạnh - nhẹ, trong - đục.
  • Đàn đáy: Nhạc cụ chuyên dụng duy nhất cho ca trù, thùng đàn không đáy, cần đàn dài có 10–11 phím tre gắn rất cao, dùng 3 dây tơ. Kỹ thuật đàn gồm ngón vê, ngón vẩy, ngón lia và đặc biệt là kỹ thuật "nhấn chùn" tạo âm sắc riêng biệt.
  • Trống chầu: Dùi trống gọi là "roi chầu". Người đánh trống là quan viên, giữ ba chức năng: tham gia chấm câu kết khúc, khích lệ hoặc phê bình đào kép qua tiếng "chát" (gõ tang) và tiếng "tom" (đánh mặt trống), đồng thời định hướng thưởng thức cho thính giả theo lề lối nghiêm ngặt.

Chương 2. Thực trạng biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại Hà Nội

Chương 2 gồm 50 trang, tập trung đánh giá số liệu khảo sát thực tế tại các điểm diễn nội thành Hà Nội:

  • Thực trạng nhân lực nghệ nhân: Tác giả chỉ ra sự sụt giảm nghiêm trọng của đội ngũ nghệ nhân cao tuổi nắm giữ vốn cổ truyền. Đến năm 2014, trên phạm vi cả nước chỉ còn 4–5 nghệ nhân ca trù trên 80 tuổi, so với con số 21 cụ tại thời điểm lập hồ sơ UNESCO năm 2009. Tại Hà Nội, sự kế tục phụ thuộc chủ yếu vào các gia đình truyền thống (như dòng họ cụ Nguyễn Văn Mùi ở Thái Hà) và các nghệ sĩ thế hệ tiếp nối như Lê Thị Bạch Vân, Phạm Thị Huệ, Nguyễn Thúy Hòa.
  • Mô hình tổ chức và cấu trúc chương trình: Hoạt động biểu diễn nội thành tập trung ở ba đơn vị đại diện: CLB ca trù Hà Nội, CLB ca trù Thái Hà và Giáo phường ca trù Thăng Long. Một buổi diễn phục vụ du khách chuẩn mực có thời lượng 60 phút, nhân lực gồm 1 đào nương (vừa hát vừa gõ phách), 1 kép đàn đáy, 1 quan viên cầm chầu và nhân viên giới thiệu chương trình kiêm điều phối. Các tiết mục thường bao gồm hát thờ, hát chơi, hát múa bỏ bộ, kết hợp phần giải thích nhạc cụ và hướng dẫn khán giả thử cầm chầu.
  • Dữ liệu khảo sát công chúng và du khách: Luận án trình bày các bảng thống kê và biểu đồ phản ánh thị hiếu của khán giả:
    • Tỷ lệ khách xem ca trù: Khách quốc tế chiếm tỷ lệ áp đảo (trên 80% tại điểm diễn 87 Mã Mây), khách trong nước chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Đa số khách quốc tế đến từ các nước Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản theo các tour du lịch văn hóa đặt trước.
    • Mục đích xem ca trù: Khách quốc tế tìm hiểu do tò mò về văn hóa truyền thống Việt Nam hoặc theo chương trình tour; rất ít khách có hiểu biết sâu về hệ thống lề lối âm nhạc ca trù.
    • Đánh giá mức giá vé: Phần lớn du khách đánh giá mức giá vé tại các điểm biểu diễn ca trù nội thành là hợp lý so với các sản phẩm nghệ thuật truyền thống khác. Tuy nhiên, doanh thu từ bán vé chỉ đủ bù đắp thù lao biểu diễn tối thiểu cho nghệ sĩ, không đủ nguồn lực để tái đầu tư cơ sở vật chất.
    • Khảo sát nhận thức giới trẻ (nhóm đối chứng 300 phiếu): Mức độ biết đến ca trù còn thấp so với các loại hình nghệ thuật khác như chèo, múa rối nước. Phần lớn giới trẻ chưa nắm rõ thông tin ca trù là di sản thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp, không gian tiếp cận chủ yếu là qua truyền hình hoặc internet thay vì đến trực tiếp các giáo phường.

Chương 3. Biểu diễn nghệ thuật ca trù, một số vấn đề cần bàn luận

Chương 3 gồm 41 trang, thảo luận sâu các vấn đề quản lý và định hướng phát triển:

  • Bàn luận về bảo tồn và phát huy giá trị di sản: Tác giả phân tích xung đột giữa yêu cầu bảo tồn nguyên gốc và nhu cầu khai thác biểu diễn thương mại. Bảo tồn khép kín sẽ làm di sản mất không gian sinh tồn xã hội; ngược lại, thương mại hóa tùy tiện sẽ dẫn đến nguy cơ sân khấu hóa quá mức, cắt xén các khổ phách, câu chữ kinh điển để chiều theo thị hiếu du khách không am hiểu.
  • Biến đổi của thiết chế CLB, giáo phường nội thành: Luận án đối chiếu sự chuyển dịch từ giáo phường truyền thống sang CLB hiện đại:
    • Giáo phường xưa: Tổ chức mang tính huyết thống, họ tộc, khép kín theo địa bàn làng xã nông thôn; gắn bó chặt chẽ với không gian tín ngưỡng hát cửa đình, phụng thờ thần thành hoàng làng và tế tổ nghề vào ngày 11 tháng Chạp.
    • CLB hiện nay: Thiết chế văn hóa tự nguyện, mở rộng cho mọi đối tượng yêu thích; không gian diễn xướng chuyển dịch vào nhà hát, đình miếu đô thị, quán văn hóa; đào kép không còn sống thuần túy bằng nghề hát khoán hay nhận thẻ trù mà hoạt động theo hợp đồng biểu diễn hoặc bán vé du lịch.
  • Đánh giá ưu điểm và hạn chế của các mô hình tiêu biểu: Luận án tổng hợp bảng phân tích các mô hình đại diện:
    • Mô hình gia đình/dòng họ truyền đời (CLB ca trù Thái Hà): Ưu điểm là bảo lưu được chuẩn mực âm nhạc và bí quyết nghề nghiệp chính thống; hạn chế là quy mô hoạt động khép kín, phụ thuộc vào nguồn lực nội bộ dòng họ.
    • Mô hình tập hợp nghệ sĩ xã hội hóa (CLB ca trù Hà Nội): Ưu điểm là quy tụ được nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ từ các nguồn khác nhau, tích cực quảng bá; hạn chế là thiếu kinh phí ổn định, địa điểm biểu diễn thường xuyên thay đổi.
    • Mô hình kết hợp biểu diễn du lịch chuyên nghiệp (Giáo phường ca trù Thăng Long): Ưu điểm là duy trì được lịch diễn định kỳ phục vụ khách du lịch, chủ động quảng bá quốc tế; hạn chế là áp lực doanh thu, không gian biểu diễn tại phố cổ có sức chứa hạn chế.
  • Đề xuất mô hình và giải pháp bền vững: Tác giả kiến nghị xây dựng mô hình điểm biểu diễn chuẩn mực kết hợp giữa bảo tồn di sản học thuật và dịch vụ văn hóa du lịch; hoàn thiện chính sách đãi ngộ, phong tặng danh hiệu cho nghệ nhân dân gian; đưa giáo dục di sản ca trù vào trường học; tăng cường vai trò điều phối của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội trong việc kết nối các CLB với các hãng lữ hành quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ Văn hóa học tiếp cận ca trù dưới góc độ biến đổi thiết chế văn hóa (từ giáo phường sang CLB) và hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại đô thị Hà Nội.
  • Luận án kiểm chứng và vận dụng lý thuyết di sản phi vật thể để phân tích ca trù dưới ba tư cách đồng thời: di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, di sản cần được bảo vệ khẩn cấp, và "di sản sống" đang thích ứng trong đời sống đô thị hiện đại.
  • Làm sáng tỏ bản chất của các xung đột văn hóa giữa bảo tồn bản sắc và thương mại hóa du lịch trong hoạt động trình diễn nghệ thuật truyền thống, cung cấp khung phân tích cho các nghiên cứu tiếp theo về quản lý di sản biểu diễn.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và định tính cập nhật về hệ thống các CLB, giáo phường ca trù trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn thực hiện Chương trình hành động Quốc gia (2010–2015).
  • Khảo sát thực chứng cơ cấu khán giả, thị hiếu thưởng thức và các yếu tố cản trở giới trẻ tiếp cận ca trù thông qua 500 phiếu điều tra xã hội học.
  • Đề xuất các giải pháp quản lý thực tế cho các cơ quan quản lý văn hóa Thủ đô, bao gồm cơ chế cấp kinh phí hỗ trợ điểm diễn, chính sách đãi ngộ nghệ nhân cao tuổi, và tiêu chí chuẩn hóa chương trình biểu diễn 60 phút phục vụ du khách lữ hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Giới hạn phạm vi khảo sát thực địa: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực nghiên cứu, luận án chỉ đi sâu phân tích hoạt động biểu diễn của ba đơn vị tiêu biểu ở khu vực nội thành Hà Nội (CLB ca trù Hà Nội, CLB Thái Hà, Giáo phường Thăng Long); chưa khảo sát chi tiết toàn bộ thực trạng hoạt động của các CLB tại các huyện ngoại thành như Quốc Oai, Đan Phượng, Chương Mỹ.
  • Giới hạn về tư liệu âm nhạc chuyên sâu: Nguồn thư tịch Hán Nôm và các văn bản làn điệu cổ truyền rất phong phú nhưng có độ phức tạp cao về mặt âm nhạc học. Luận án chủ yếu khai thác các tư liệu này ở khía cạnh thiết chế và văn hóa học, chưa đi sâu phân tích ký âm hoặc cấu trúc âm học chi tiết của toàn bộ hệ thống thể cách ca trù.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa mô hình CLB ca trù đô thị nội thành với mô hình giáo phường làng xã truyền thống ở các vùng ngoại thành Hà Nội (Lỗ Khê, Thượng Mỗ, Phú Đô) và các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Tĩnh.
  • Theo dõi và đánh giá hiệu quả của các chính sách bảo vệ ca trù sau năm 2015, nghiên cứu tiến trình chuyển đổi của ca trù từ Danh sách Di sản cần được bảo vệ khẩn cấp sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Giá trị tham khảo

Đối tượng sử dụng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Di sản học, Âm nhạc dân tộc học và Xã hội học văn hóa có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu biến đổi di sản.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa: Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam trong việc xây dựng quy hoạch bảo tồn di sản phi vật thể và thẩm định chính sách đãi ngộ nghệ nhân.
  • Nhà quản lý CLB, nghệ sĩ và doanh nghiệp du lịch: Các chủ nhiệm CLB ca trù, các công ty lữ hành quốc tế có thể tham khảo mô hình tổ chức biểu diễn, cơ cấu chương trình và dữ liệu khảo sát thị hiếu khán giả để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa phù hợp.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất

  • Bảng tổng hợp lịch sử hình thành và thực trạng các CLB ca trù Hà Nội tại Chương 1 (Bảng 1).
  • Toàn bộ hệ thống số liệu khảo sát xã hội học thực nghiệm về du khách và giới trẻ tại Chương 2 (các bảng phân tích cơ cấu khách, mục đích thưởng thức và đánh giá giá vé).
  • Bảng phân tích ưu điểm, hạn chế của các mô hình CLB, giáo phường nội thành và hệ thống kiến nghị chính sách tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Ca trù được UNESCO công nhận vào năm nào và thuộc danh mục di sản gì?

Ca trù được UNESCO công nhận vào năm 2009, thuộc Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Lộ trình của Công ước UNESCO và Chương trình hành động Quốc gia giai đoạn 2010–2015 đặt mục tiêu đưa ca trù vượt qua tình trạng khẩn cấp để chuyển sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

2. Sự khác biệt căn bản giữa giáo phường ca trù truyền thống và câu lạc bộ ca trù hiện đại là gì?

Giáo phường truyền thống là tổ chức nghề nghiệp mang tính họ tộc khép kín, hoạt động chủ yếu ở không gian làng quê nông thôn gắn với tín ngưỡng đình làng (hát cửa đình) và thờ tổ nghề. Ngược lại, CLB ca trù hiện đại là thiết chế văn hóa tự nguyện được thành lập tại đô thị, quy tụ những người yêu thích nghệ thuật, biểu diễn trong không gian sân khấu hóa hoặc di tích phố cổ và vận hành theo cơ chế thị trường, du lịch.

3. Bộ ba phương tiện âm nhạc cốt lõi của ca trù gồm những gì và có đặc trưng kỹ thuật nào?

Nghệ thuật ca trù sử dụng bộ ba phương tiện âm nhạc:

  • Cỗ phách: Gồm bàn phách và 2 dùi gõ (phách cái và phách con chẻ đôi) tạo âm thanh âm - dương đối lập.
  • Đàn đáy: Nhạc cụ cần dài, 3 dây tơ, không có đáy thùng đàn, phím gắn cao với kỹ thuật nhấn chùn đặc trưng.
  • Trống chầu: Do quan viên cầm roi chầu đánh vào mặt trống ("tom") và tang trống ("chát"), thực hiện ba chức năng: chấm câu, khen chê nghệ sĩ và hướng dẫn người nghe thưởng thức.

4. Khảo sát xã hội học trong luận án được tiến hành với quy mô mẫu như thế nào?

Luận án thực hiện điều tra bằng bảng hỏi trên tổng số 500 phiếu khảo sát, chia thành hai nhóm đối tượng: 200 phiếu dành cho du khách trực tiếp xem biểu diễn ca trù tại các CLB nội thành (gồm khách quốc tế và khách trong nước) và 300 phiếu đối chứng dành cho người dân, giới trẻ tại Hà Nội chưa từng đến các CLB ca trù.

5. Vì sao tác giả lựa chọn khu vực nội thành Hà Nội làm phạm vi nghiên cứu trọng tâm?

Tác giả lựa chọn nội thành Hà Nội vì đây là nơi tập trung các CLB ca trù biểu diễn phục vụ du khách thương mại sớm nhất và sôi động nhất cả nước sau khi được UNESCO công nhận. Nghiên cứu địa bàn này cho phép quan sát rõ nét nhất sự biến đổi của thiết chế ca trù trong môi trường đô thị hiện đại và đánh giá trực tiếp kết quả của Chương trình hành động Quốc gia giai đoạn 2010–2015.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Văn hóa học của tác giả Nguyễn Đức Thắng là công trình nghiên cứu hệ thống về hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của các CLB, giáo phường tại Hà Nội trong giai đoạn thực hiện cam kết với UNESCO (2010–2015). Bằng việc kết hợp lý thuyết bảo tồn di sản sống, lý thuyết phát triển bền vững và phương pháp điều tra xã hội học thực nghiệm, tác giả đã làm sáng tỏ sự chuyển dịch thiết chế từ giáo phường truyền thống sang mô hình CLB đô thị. Công trình chỉ ra những xung đột thực tế giữa bảo tồn nguyên gốc và khai thác du lịch thương mại, đồng thời cung cấp hệ thống số liệu khảo sát tin cậy về thị hiếu khán giả. Các đề xuất về mô hình biểu diễn chuẩn mực và cơ chế quản lý trong luận án có giá trị khoa học và giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác bảo tồn, phát huy bền vững di sản văn hóa phi vật thể ca trù tại Việt Nam.