CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1. Cơ sở lu ýận về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng 1. Khái niệm về quản lý tài nguyên 1. Khái niệm tài nguyên sở hữu chung.
[Elinor Ostrom,1990] [10] Tài nguyên sở hữu chung (Common-pool resources: CPR) là những tài nguyên mà nhiều người có thể sử dụng nhưng việc tiêu dùng của người này làm giảm khả năng tiêu dùng của người kia. Các tài nguyên này gồm có bãi cá, đồng cỏ, rừng, nước cho thủy lợi,… Ở quy mô lớn hơn, không khí và đại dương cũng là các tài nguyên sở hữu chung. Việc sử dụng nhiều tài nguyên dùng chung, nếu được sử dụng bền vững và quản lý một cách hiệu quả, thì các nguồn tài nguyên sẽ được bảo tồn và ngày càng phát triển. Tuy nhiên, nếu sử dụng vượt quá giá trị biên sẽ làm suy giảm các nguồn tài nguyên đó.
Hiện nay, các tài nguyên thiên nhiên thường gặp phải các vấn đề như lạm dụng quá mức, ô nhiễm và nguy cơ phá hoại. Do vậy, cần phải có kế hoạch giới hạn việc sử dụng hoặc thu hoạch các nguồn tài nguyên một cách khôn khéo và hợp lý. Các tài nguyên dùng chung, khi chúng thuộc quyền sở hữu của các chính quyền quốc gia, khu vực hoặc địa phương, chúng tồn tại dưới dạng là hàng hóa công cộng. Khi chúng thuộc quyền sở hữu cấp xã, chúng tồn tại dưới dạng các tài nguyên sở hữu chung.
Khi chúng thuộc quyền sở hữu của các nhóm cá nhân hay công ty, chúng tồn tại dưới dạng hàng hoá tư. Khi chúng không thuộc sở hữu của ai, chúng được sử dụng làm các tài nguyên tự do tiếp cận. Không ai có thể ngăn cản người khác sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chiếm phần thu hoạch từ tài nguyên thiên nhiên. Tự do tiếp cận dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bao gồm suy thoái môi trường, tình trạng khai thác quá mức và khả năng cạn kiệt các nguồn lợi do thiên nhiên đem lại.
Sinh viên: Chu Thành Luân - MT1801Q 3 Khóa luận tốt nghiệp Ngành quản lý Tài nguyên & Môi trường 1. Khái niệm quản lý nhà nước về tài nguyên a. Khái niệm quản lý nhà nước về tài nguyên (Centralized resource management – CRM) (Lưu Đức Hải – Nguyễn Ngọc Sinh “Quản lý tài nguyên cho sự phát triển bền vững”)[2] Là quá trình Nhà nước bằng các cách thức, công cụ và phương tiện khác nhau tác động đến các hoạt động của con người nhằm làm hài hòa mối quan hệ giữa tài nguyên và phát triển sao cho thỏa mãn nhu cầu về mọi mặt của con người, đồng thời bảo đảm được chất lượng môi trường, tài nguyên và các chức năng của chúng. Quản lý Nhà nước về tài nguyên là toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện chức năng quản lý về tài nguyên của Nhà nước.
Các hoạt động này đều nhằm thực hiện nhiệm vụ cơ bản là bảo đảm cân bằng hiện trạng môi trường, giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; cải thiện môi trường; bảo đảm cân bằng sinh thái; ngăn chặn và khắc phục hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước; góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu. Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBRM) “Lê Văn Khoa - Quản lý tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng, bài giảng, Đại học Quốc gia Hà Nội”[5] Hiện nay, việc quản lý tài nguyên thông qua các cơ quan trung ương đã bị thất bại trong việc hạn chế khai thác tài nguyên quá mức và những tác động huỷ diệt. Nhiều quốc gia hiện nay đang trở lại kiểm soát tài nguyên thiên nhiên ở cấp địa phương bởi vì những người phụ thuộc trực tiếp vào những nguồn tài nguyên thường là những người tận tâm, có ý thức và là những người bảo vệ có khả năng. Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là quá trình quản lý tài nguyên do những người phụ thuộc vào nguồn tài nguyên đề xướng.
Vì vậy ngày càng có nhiều người sử dụng tài nguyên tham gia vào quản lý nguồn tài nguyên và trách Sinh viên: Chu Thành Luân - MT1801Q 4 Khóa luận tốt nghiệp Ngành quản lý Tài nguyên & Môi trường nhiệm quản lý mang tính chất địa phương. Ý thức trách nhiệm, sự tuân thủ pháp luật do đó cũng tăng lên. Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là hoạt động nhằm định hướng các vấn đề thông qua kiểm soát quản lý tài nguyên mang tính địa phương hơn. Khi quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng trở nên tiến bộ hơn nó sẽ giải quyết các vấn đề của cộng đồng một cách toàn diện hơn.
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một nỗ lực làm cho cộng đồng “được kiểm soát hơn”. Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diện nhằm xác định những vấn đề mang tính chất nhiều mặt ảnh hưởng đến môi trường thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của cộng đồng. Điều quan trọng là chiến dịch này tìm cách xác định vấn đề cốt lõi của sự tiếp cận tài nguyên một cách tự do cùng với tất cả hậu quả bất công và không hiệu quả, bằng cách tăng cường sự tiếp cận và kiểm soát của cộng đồng đối với nguồn tài nguyên của họ. Thuật ngữ “Dựa vào cộng đồng” là một nguyên tắc mà những người sử dụng tài nguyên cũng phải là người quản lý hợp pháp đối với nguồn tài nguyên đó.
Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác hoặc là có tính tập trung hoá cao hoặc là không có sự tham gia của các cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên đó. Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy những hệ thống quản lý tập trung tỏ ra không hiệu quả trong việc quản lý nguồn tài nguyên theo cách bền vững. Do đó rất nhiều cộng đồng đã đánh mất ý thức “làm chủ” và trách nhiệm đối với vùng họ sinh sống. Thông qua những tiến trình đa dạng của mình, quản lý bảo tồn tài nguyên dựa vào cộng đồng hy vọng sẽ khôi phục lại ý thức “làm chủ” và trách nhiệm này.
Quản lý bảo tồn tài nguyên dựa vào cộng đồng cũng là một quá trình mà qua đó cộng đồng được tăng quyền lực về chính trị và kinh tế để họ có thể đòi và giành được quyền kiểm soát quản lý và tiếp cận một cách hợp pháp đối với nguồn tài nguyên của họ. Sự vận động nhằm khởi xướng một vấn đề như thế tốt hơn hết phải được bắt đầu từ bản thân cộng đồng. Tuy nhiên do yếu về quyền lực nên hầu hết các cộng đồng đều thiếu khả năng tự khởi xướng quá trình thay Sinh viên: Chu Thành Luân - MT1801Q 5 Khóa luận tốt nghiệp Ngành quản lý Tài nguyên & Môi trường đổi. Chính điều này là một trong những nhân tố đã dẫn đến các tổ chức và cơ quan bên ngoài tham gia, làm cho những quá trình liên quan đến Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng trở nên dễ dàng hơn, kể cả việc tổ chức cộng đồng.
Đồng quản lý tài nguyên Đồng quản lý có thể được định nghĩa như một sự sắp xếp phối hợp, trong đó cộng đồng của những người sử dụng nguồn lợi địa phương, chính quyền và các bên tham gia khác và các cơ quan đại diện bên ngoài (các tổ chức phi chính phủ (NGOs), viện nghiên cứu, trường đại học,…) đều chia sẻ quyền hạn và trách nhiệm đối với việc quản lý tài nguyên. Thông qua việc tư vấn và thương thuyết, các bên tham gia tiến hành một thỏa thuận chính thức về vai trò, trách nhiệm và quyền hạn tương ứng trong việc quản lý, được xem là “năng lực đàm phán”. Đồng quản lý còn được gọi là quản lý phối hợp, liên kết, tham gia hoặc đa bên. Ưu điểm của quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng Một số ưu thế quan trọng của mô hình quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng so với quản lý Nhà nước về tài nguyên được thể hiện trong Bảng 3.
cụ thể như sau: Bảng 1. Bảng so sánh ưu thế của mô hình quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng so với mô hình quản lý nhà nước về tài nguyên Mô hình quản lý tài nguyên Mô hình quản lý nhà nước dựa vào cộng đồng (CBRM) về tài nguyên (CRM) CBRM được dựa trên phương pháp tiếp CRM được dựa trên phương pháp cận từ dưới lên, mô hình này đã giải quyết tiếp cận từ trên xuống dưới được các nhu cầu về lợi ích của cộng đồng từ việc quản lý tài nguyên. Được thực hiện bởi một số cơ quan, bộ Được thực hiện bởi một số cơ quan phận (các nhóm, các bên liên quan dựa tập trung quyền lực (quốc gia, chính vào cộng đồng). quyền địa phương).
Có sự tham gia của cộng đồng, các bên Thiếu sự tham gia của cộng đồng, liên quan trong việc lập kế hoạch, tiến các bên liên quan trong việc lập kế Sinh viên: Chu Thành Luân - MT1801Q 6 Khóa luận tốt nghiệp Ngành quản lý Tài nguyên & Môi trường Mô hình quản lý tài nguyên Mô hình quản lý nhà nước dựa vào cộng đồng (CBRM) về tài nguyên (CRM) hành, giám sát và đánh giá công tác quản hoạch, tiến hành, giám sát và đánh lý tài nguyên. giá công tác quản lý tài nguyên. Thực thi các quy định của pháp luật và Thực thi các quy định của Pháp luật của Chính phủ. Ngoài ra, việc quản lý tài và chính phủ nguyên còn phải tuân theo các nguyên tắc, điều lệ trong hương ước do cộng đồng đề ra.
Do vậy, việc quản lý sẽ đạt được sự đồng thuận của cộng đồng, quản lý sẽ hiệu quả hơn. Nguồn: Than Thi Hien, 2009, Thesis: Research on community based coastal resource management model in Xuan Thuy national park, Nam Dinh, Vietnam-French Community of Belgium Master Program, Hanoi.[8] Ngoài ra, phương pháp tiếp cận CBMR cũng có những ưu điểm hơn so với phương pháp tiếp cận CRM trong bảng 3.2 như sau: Bảng 1. Ưu điểm của CBRM - Hiệu quả hơn và công bằng hơn so với CRM; - Cộng đồng sẽ có trách nhiệm theo dõi và thực thi tốt hơn; - Cộng đồng có quyền sở hữu và trách nhiệm hơn đối với việc quản lý tài nguyên; - Linh hoạt và thích nghi để đáp ứng khi các điều kiện thay đổi; - Mức độ chấp nhận và tuân thủ với kế hoạch đề ra cao hơn; - Cộng đồng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp tri thức bản địa. Nguồn: Philippines Coastal Management Guidebook Series No.